Bao giờ FSHAP triển khai ở Việt Nam.? (Người Buôn Gió)


Thứ tư, ngày 18 tháng chín năm 2013

Bao giờ FSHAP triển khai ở Việt Nam.?

FSHAP là một chương trình đánh giá tài chính khư vực của quỹ tiền tề quốc tế IMF và ngân hàng thế giới khởi xướng cho các nước thành viên. Chương trình này nhằm đánh gia các nguy cơ có thể dẫn đến mất cân đối tài chính (Ta cứ gọi nôm na là vỡ nợ.) của một nước nào đó.

Các nước thành viên của FSHAP minh bạch hệ thống tài chính, kinh tế của mình. Để FSHAP xem xét và cố vấn hướng giải quyết những khó khăn. Nếu đi theo cố vấn của FSHAP có thể là bước chứng tỏ mình để IMF và WB tin tưởng cho mượn tiền.
Việt Nam dập dò ngoài của FSHAP từ hai năm nay.
Sở dĩ Việt Nam thập thò như vậy, vì Việt Nam chưa biết chuyện trải lòng tình trạng kinh tế của mình trước thế giới như vậy sẽ mọi chuyện sẽ dẫn đến đâu. Nếu không thẳng thắn trình bày, thì FSHAP không thể nào cố vấn đưa ra cho Việt Nam những hướng đi, giải pháp. Và như thế độ thì đương nhiên độ tin cậy để Việt Nam vay tiền của IMF hay BW sẽ khó khăn.
Nhưng nếu dãi bày thật sự.?
Giải thích thế nào về hàng núi tiền mà ĐCS VN tiêu dùng. Tiền xây trụ sở, tiền dùng tuyên truyền cho Đảng, tiền dùng quân bảo vệ, tiền cho công tác Đảng, chi phí nuôi cán bộ Đảng.? Tiền nuôi công an, bộ đội, dư luận viên….
Giải thích thế nào về những dự án triển khai mà thực tế nhìn thấy tận mắt chỉ bằng một phần ba số tiền bỏ ra. Hai phần ba còn lại đi đâu….?
Cuộc dự định kỷ luật đồng chí X, bỏ phiếu tín nhiệm chức danh do quốc hội bầu, thành lập đoàn kiểm tra BCT, ban Nội Chính Trung Ương…..tất cả những việc này đều đầu voi đuôi chuột. Lúc đầu rầm rộ khi thế tưởng như ra quân một trận là trong sạch tham nhũng, quan liêu…nhưng sau thì lác đác tiếng thanh la. Nguyễn Bá Thanh lúc đầu lớn tiếng ” bắt hết” giờ ngậm ngùi  khe khẽ ” Hà Nội không vội được đâu”.
Thái độ của   Nguyễn Bá Thanh cũng chính là thái độ của thượng cấp ông ta. Vì sao cuộc chiến chống tham nhũng, chấn chỉnh Đảng lại xuôi lơ như vậy.?
Vì tiền hết. Tiền hết thật. Không phải đùa nữa.
 Mà người có thể đem tiền về lúc khó khăn này chỉ có thể là ngài thủ tướng tài ba Nguyễn Tấn Dũng, nếu xử đồng chí X kỷ luật, truất tín nhiệm thì ai sẽ là người đứng ra đi xoay tiền của các đại cường quốc như Nhật, Mỹ.?
Trước nguy cơ hết tiền,để đảm bảo mọi nguồn thu,thủ tướng đã phái  thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn phải gồng mình ngược xuôi bôn ba với Việt Kiều làm công tác tư tưởng. Để ổn định dòng tiền Kiều Hối hàng năm gửi về đừng sa sút, tính quê hương, dân tộc, tình nhiễu điều phủ giá gương được Nguyễn Thanh Sơn khai thác triệt để duy trì từ nghị quyết 36 đến những buổi gặp ” chân tình”  với các Việt Kiều  loại vớ vẩn tạp nham như thiếu úy VNCH Nguyễn Ngọc Lập hay bồi bút Nguyễn Phương Hùng để mượn hình ảnh bọn này gắn kết tình cảm Việt Kiều sâu đâm với quê hương hơn nữa, gửi tiền về đều đặn hơn nữa.
Nhưng khó khăn chính lớn nhất vẫn là chuyện tìm đường gõ cửa IMF hay BW để vừa khất nợ vừa mượn thêm tiền, mà gõ cửa hai nơi này phải qua ải FSHAP. 
Có lẽ BCT đã thấy lúc này chưa phải là lúc quyết liệt với đồng chí X, cho nên mọi động thái hay phát ngôn của TBT và CTN bỗng nhiên đều chùng xuống, tạm thời dàn xếp hòa hoãn để đồng chí X tập trung đối phó với chuyện tiền nong với IMF tới đây. Cũng vì thế trưởng ban Nội Chính trung ương Nguyễn Bá Thanh một người vốn mạnh mẽ phải phát biểu ” không vội được đâu ”.
Đồng chí Hùng Hói chủ tịch quốc hội thấy thế trận tay ba giằng co đã giảm xuống. Cảm thấy mình đứng ngoài cuộc dàn xếp hòa hoãn kia. Hôm nay giãy nảy nhảy ra đòi xử lý tham nhũng. Một hành động khá bất ngờ so với tính nết ngậm miệng ăn tiền bao lâu nay của đồng chí. Ai chứ Hùng Hói Nghệ An mà vì dân vì nước thì chuyện khó thế nào tin được. Chắc mọi người còn nhớ đồng chí Hùng Hói xui dân bỏ tiền mua cổ phiếu năm nào.? Nhưng đồng chí kêu lớn thì lớn vậy, đến TBT, CTN còn phải ngừng thì đồng chí lấy đâu ra thực lực. Kêu kiểu đồng chí chỉ như dạng ăn vạ làng là chúng mày phải nghĩ còn có tao chứ, phải nói gì gì với tao chứ. Nên chắc đồng chí X có đôi ba lời gì đó là đồng chí Hùng Hói lại êm ru như mọi khi đồng chí vẫn êm ru như vậy.
Làm sao không qua ải FSHAP mà vẫn gõ cửa vay tiền.? Hoặc giải trình FSHAP thế nào mà  không liên quan đến Đảng Cộng Sản và tham nhũng được êm xuôi người nghe.? Trách nhiệm của thủ tướng tới đây thật nặng nề. BCT cũng thông cảm với đồng chí , nên ngừng triển khai nghị quyết trung ương 4 khóa 11 để đồng chí lấy công chuộc tội, hoàn thành trách nhiệm Đảng giao là vác rá đi vay gạo.
Việt Nam vẫn hy vọng dầu khí sẽ là miếng mồi để mượn tiền IMF hay WB. Nhưng động đến dầu khí lại động đến tranh chấp với Trung Quốc, những việc này quốc tế không muốn đụng chạm lắm. Quay đi quay lại chỉ có tham gia FSHAP để nhờ chuyên gia kinh tế cố vấn hướng đi và xin mượn tiền , mà tham gia FSHAP thì phải kể lể thật sự tình cảnh, kể thế lại đụng đến bao khoản tiền chi vô lý để ” phòng chống diễn biến hòa bình ” hay ” xây dựng Đảng ”….đến ” miễn học phí cho môn học Mác Lê ”….
Cầu cho có phép màu để thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới đây tiếp cận vay được tiền của IMF, BW mà không đụng chạm gì đến danh tiếng vinh quang của ĐCS VN. Không phải qua cửa FSHAP.
Không biết tới đây thủ tướng có đi dự bế mạc phiên họp đại hội đồng liên hợp quốc ở Hoa Kỳ không.? Đi bế mạc thì đâu giải quyết được chuyện gì, ngoài bắt tay với vài ba nguyên thủ quốc gia khác chụp ảnh cho oai.? Thôi có đi thì dẫn cả đám Bình ruồi, Đam cận đi theo một thể, có gì tiện chân tạt té vào IMF hay WB hỏi han tiền nong chỗ đó có dư dật gì không, giật tạm ít về tiêu qua lúc khó khăn.

2 nhận xét:

  1. Hy Vọng là 1 sự Nhiệm Màu. Hy vọng là 1 cứu cánh duy nhất khi mình lâm vào cảnh tuyệt vọng.

    Vẫn theo lập luận cố hữu trước đây, nền kinh tế VN sẽ tan nát và xụp đổ. Thần dân sẽ lãnh đủ hậu quả tai ương của Dũng condom và ĐCS VN gây ra.

    Lá bài tẩy đã lật, kết quả ko cần đeo kính, vẫn thấy. Vấn đề được đặt ra ko phải là How, Why, What, mà là When? Khi nào VN hấp hối?

    Nền kinh tế VN quá nhỏ, bưng bít, khó thấy chi tiết bức tranh cụ thể. Tuy nhiên, VN là 1 clone (rập khuôn), 1 đệ tử chân truyền của Tàu bựa, từ cách bắt, hiếp, cướp, xử luật rừng, etc… tất cả đều sao y bản chánh, theo sát bước chân của quan thầy Tàu bựa.

    Theo dõi Tàu bựa, dễ cho mình cái nhìn rõ ràng hơn. Tàu bựa rớt trước, VN sẽ tiếp nối ngay sau đó.

    Nhiều năm trước, Cáo Buôn của trường buôn đẳng cấp quốc tế (Mỹ) đã biết chính xác Tàu bựa DỉmSúm xổ sách (cook the book). Hiện tại đây là thực tế cả thế giới biết, ko còn là 1 phỏng đoán.

    Tàu bựa đã dùng chiến thuật Mượn Đầu Heo Nấu Cháo (leverage) khi buôn. Nguy hiểm hơn, cơ quan đầu não chóp bu ko biết hết toàn cảnh, ko thể kiểm soát những tay buôn người thuộc chính quyền địa phương lộng hành và phá hoại trong nhiều năm qua.

    Theo qui luật bất di bất dịch, khi theo đường binh Đầu Heo Nấu Cháo, sẽ có ngày nồi cháo bể, tiết canh cũng ko còn để húp.

    Con tàu kinh tế khổng lồ của Tàu bựa chưa hề 1 lần thử lửa (khủng hoảng), VÀ sẽ bị. Khi Tàu bựa gặp sóng thần tsunami đập, chàng khổng lồ có thể ko có khả năng bò dậy. Chính trị và kinh tế ở xứ này, lúc đó, khó đoán trước được.

    Tài giỏi, nhiều bằng hữu và kỷ luật như Nhật, chỉ 1 cơn sóng, phải ngáp ngáp hơn 20 chục năm.

    Tàu bựa và VN, nhìn quanh, chỉ thấy toàn địch và thù. Chết chắc cú.

    Khi Tàu bựa rớt, trái với vài dự đoán, SẼ ko ảnh hưởng nhiều đến những đại gia. Lý do: dân Tàu bựa chỉ chuyên đi đánh giầy (export). Trái lại, nhiều dân khác đang mong mỏi ngày rớt của Tàu bựa. Think Tank của Anh Hai đã tính trước được điều này.

    Tài của Dũng condom đỉnh lắm cũng chỉ cầm cự để kinh tế VN khỏi bị rớt đài TRƯỚC Tàu bựa. Sau đó, thần dân nô lệ sẽ trở thành pro Ăn Xin.

    Trả lời

  2. Nghe kiến trúc sư vinasỉn Hùng hói nổ về quyết liệt với đám tham nhũng cứ thấy ngồ ngộ nay bác phân tích vì bị ra rìa mới thấy có bài binh j ở đây.

    Trả lời

Công dân Sài gòn tiếp tục tố cáo quan chức. (Lê Hiền Đức)


Thứ năm, ngày 05 tháng chín năm 2013

Công dân Sài gòn tiếp tục tố cáo quan chức.

 

 Kính gửi: – Bà Lê Hiền Đức-Công dân chống tham nhũng,
                 

  Tôi là Nguyễn Xuân Ngữ, cựu chiến binh bị cướp đất tại Q9 TPHCM. Hơn 10 tờ báo chính thống và nhiều luật sư cho rằng Q9 và TPHCM làm sai pháp luật. Nhưng UBNDQ9, UBNDTPHCM, Thanh tra TP, Thanh tra CP, TANDTP, TAND Tối cao đều cho rằng họ làm đúng theo pháp luật, nhưng không chỉ ra được là đúng theo điều nào của pháp luật….Ông LS Nguyễn Thu Giang đã gửi thư ngỏ dưới đây đến các vị lãnh đạo tối cao, kể cả các vị đứng đầu trong Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng TW và Ban Nội chính Trung ương ( xem giấy báo phát của bưu điện đính kèm ), nhưng ông cho biết đến nay ông chưa nhận được một phản hồi nào. Thật là khó hiểu!? Ông Chủ tịch nước – Trương Tấn Sang bảo dân phải phát hiện. Ông Trưởng ban Nội chính TW – Nguyễn BáThanh tuyên bố: nếu phát hiện thì “hốt ngay”. Nhưng khi người dân gửi đơn tố cáo đến họ thì họ im lặng! Họ chỉ nói chứ không dám làm. Không biết như thế có phải lừa dân không?. Họ đặt ra Ban bệ để thêm mâm bát mà thôi. Tôi thật sự mất niềm tin ở các nhà lãnh đạo của đất nước này. Nhà cửa tôi tan hoang hết, bây giờ phải ở trong “khu  trù mật”. Hơn 40 năm trước tôi hăng hái đi vào Nam để giải phóng, thống nhất đất nước … đâu có ngờ giờ phải mất hết tài sản và sống trong kềm kẹp như thế này. Không phải riêng tôi mà nhiều người đã hối tiếc thời trai trẻ của mình như nhà thơ Bùi Minh Quốc đã viết: ” …Cay đắng thay, Mỉa mai thay, Trọn tuổi xuân ta hiến dâng cuồng nhiệt. Lại đúc nên chính cổ máy này”. 
Bây giờ tiếc nuối, khóc than có còn được gì. 
       Thư ngỏ của Luật sư Nguyễn Thu Giang chỉ nêu vụ việc oan ức của tôi bị cả hệ thống duyền lực: gồm Các Ban đảng TW, TP, UBNDQ, UBNDTP, Thanh tra TP, Thanh tra CP, TANDTP. TANDTC… hè nhau chế áp, bức tử tôi…. Thư ngỏ này, thực sự là bản cáo trạng, tố cáo chế độ dân chủ, nhân quyền của Việt Nam hiện nay.  Vì vậy tôi kính nhờ Bà chuyển vụ việc của tôi đến quý nhà lãnh đạo đất nước này, hoặc lên trang mạng của Bà. May ra tiếng nói của Bà các vị lãnh đạo còn để tâm đến. Tôi rất biết ơn Bà. Kính chào Bà. Cựu chiến binh Nguyễn Xuân Ngữ , xuanngu@ymail.com. Toàn văn thư ngỏ của ông LS Giang như sau:
               
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———–
Quận 9, ngày 12 tháng 07 năm 2013
THƯ NGỎ
( Gửi lần thứ 2 )
 Phản ánh ( đúng hơn phải dùng từ tố cáo ) vụ cưỡng chế thu hồi đất không có quyết định thu hồi đất; các cơ quan giải quyết khiếu kiện không theo quy định pháp luật, dùng quyền công vụ áp bức người dân.
————-            
Kính gửi: Đồng chí  Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản VN, Đại biểu
                 Quốc hội, Trưởng Ban chỉ đạo trung ương về phòng  chống tham nhũng.
Đồng kính gửi: -Quốc Hội,Ủy ban TV, Các Ủy Ban, các Đoàn và Đại biểu Quốc Hội
                         -Chủ tịch Nước, Phó Chủ tịch nước
                         -Ban Nội chính trung ương
                         -Tòa án Nhân dân Tối cao
                         -Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
                         -Thủ tướng Chính phủ
                        -Các Bộ , Ngành liên quan
                       -Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam
                       -Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam
                       -Hội Luật Gia Việt Nam.
                      -Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam
              Tôi tên là Nguyễn Thu Giang, sinh năm 1946, CMND số 020588702 do CATPHCM cấp ngày 06/07/2011, cư ngụ tại số 5 Lã Xuân Oai, phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9, TPHCM, đt: 0903694758, email: ls.thugiang@yahoo.com.vn. Tôi nguyên là Phó Giám đốc Sở Tư Pháp TPHCM, nghỉ hưu từ năm 2007, hội viên Hội Cựu Chiến binh, hội viên Hội Luật gia, nạn nhân chất độc da cam/dioxin, hiện nay là Luật sư với tư cách cá nhân. Trong thời gian qua tôi đã gửi thư cảnh báo và Thư ngỏ đến nhiều tổ chức và cá nhân ở Trung ương và thành phố, nhưng không nhận được sự phản hồi nào để  xem việc tôi phản ảnh là đúng hay sai như thế nào. Nay tôi tiếp tục gửi lần thứ 2  Thư ngỏ đến quý vị để mong quý vị thẩm tra, xem xét và có giải pháp nhằm đem lại “công bằng, dân chủ, văn minh…” cho người dân. Nội dung Thư ngỏ của tôi như sau:
            Tôi nghiêm túc kính báo đến quý vị Lãnh đạo tối cao của Đảng và Nhà nước là:
            Ở quận 9 TPHCM có vụ cưỡng chế thu hồi quyền sử dụng 3600 m2 đất của ông Nguyễn Xuân Ngữ tại 166/6 khu phố Mỹ Thành, phường Long Thạnh Mỹ, cũng tương tự như vụ Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng – Hải Phòng, hay vụ Văn Giang-Hưng Yên… Hai lần bị cưỡng chế có cả xe cơ giới …( ngày 20, 21/05/2009  và 21/06/2011 ), nhà đất, trang trại của ông Ngữ đã bị chà  đi xát lại nên đã tan nát hết. ( Mời quý vị xem tại http://www.youtube.com/watch?v=H8NqZzxW0Iw hoặc tại  http://www.google.com , với từ  khóa Nguyễn Xuân Ngữ sẽ có nhiều thông tin  về vụ  này ).
            UBND Quận 9 quanh co, bất nhất, tự mâu thuẫn với lập luận của chính mình, có dấu hiệu lừa dối, không trung thực với cấp trên và với người dân ( tôi có đủ bằng chứng  để chứng  minh chắc chắn những nhận định này, nhưng trong thư này tôi chỉ nêu vài điểm ).
         Khi ban hành quyết định ( QĐ ), UBNDQ9 đều có ghi căn cứ vào các văn bản pháp luật hiện hành. Nhưng khi chất vấn, yêu cầu chứng minh, lúc đó UBNDQ9 mới thừa nhận là quận áp dụng các quy định pháp luật đã hết hiệu lực pháp luật ( tại CV 690/UBND ngày 20/5/2009 và quyết định 47/QĐ-UBND-TTr ngày 11/5/2009 ). Cưỡng chế, phá nhà, lấy đất, bắt gấu nuôi hợp pháp… nhưng không ra  QĐ thu hồi đất, mà cưỡng chế với lý  do ông Ngữ không thi hành QĐ 2666/QĐ-UB ngày 27/06/2002 của UBNDTP, trong khi đó  QĐ 2666 không tống đạt đến ông!? Tôi thật sự không hiểu đây là dân chủ kiểu gì ?Chắc chắn dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Đảng chủ trương không phải như vậy.
         QĐ 13/UBND ngày 03/04/2009 của UBNDQ9 v/v cưỡng chế hành chính đã vượt thẩm quyền,vi phạm các quy định của luật đất đai 2003, đặc biệt là vi phạm Điều 60 NĐ 84/2007NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ là: trước khi cưỡng chế phải thực hiện các Điều 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59 của NĐ này, nhưng UBNDQ9 không thực hiện.
        QĐ 2666 cũng không phải QĐ thu hồi đất, càng không phải QĐ thu hồi đất đối với ông Ngữ theo Điều 21 Luật đất đai năm 1993 (sđbs 1998, 2001) được quy định rõ ràng là : “ Việc quyết định giao đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó”. Theo quy định này, thì quyết định thu hồi đất phải ghi rõ họ tên của người đang sử dụng đất bị thu hồi, số diện tích ( mét vuông )bị thu hồi loại gì,  tại các thửa, tờ bản đồ số mấy…, và phải tống  đạt công khai, trực tiếp đến người đó.
          Về QĐ2666, tại kết luận số 256/TTCP-V.IV ngày 23 tháng 02 năm 2008 của Thanh tra Chính phủ có ý biện minh cho UBNDTPHCM, nêu lập luận:“ Theo quy định của luật đất đai năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành, không có văn bản nào quy định phải có các quyết định thu hồi đất cho từng hộ gia đình. Mặt khác sau khi ban hành quyết định thu hồi đất UBND thành phố đã có quyết định 3022/QĐ-UB về điều chỉnh, di chuyển các hộ dân cư và các cơ quan, đơn vị nằm trong Khu quy hoạch xây dựng KCNC”, …từ đó Thanh tra Chính phủ bác đơn khiếu nại, tố cáo của hàng trăm hộ dân.
       Về các nội dung này tôi xin có ý kiến như sau:
       Trong kết luận 256 của Thanh tra Chính phủ ( và các bản án của TANDTPHCM, TANDTC ) cố ý bỏ quên, không đả động gì đến Điều 21 LĐĐ 1993 (sđbs 1998, 2001) như nội dung trích ở trên là cơ quan có thẩm quyền phải ban hành quyết định thu hồi đất của họ, có tên người, số mét vuông, tại tờ bản đồ, số thửa … bị thu hồi. Còn việc ban hành quyết định riêng cho từng hộ hay quyết định chung cho các hộ ( kiểu danh sách kèm theo ) là thuộc về kỹ thuật của cơ quan ban hành quyết định, miễn sao quyết định thu hồi đất có đủ các chi tiết xác định nêu trên và phải tống đạt đến người đó.
         Quyết định thu hồi đất không phải là văn bản quy phạm pháp luật, chỉ cần đăng công báo, mọi người đều phải thực hiện, nó là quyết định hành chính cá biệt nên cần phải nêu rõ đối tượng phải thi hành. Cả khi quyết định đã nêu rõ đối tượng phải thi hành nhưng không tống đạt đến họ, thì họ cũng có quyền không thi hành.
         QĐ 2666 không phải là văn bản quy phạm pháp luật, cũng không phải quyết định thu hồi đất mà là quyết định chỉ đạo điều hành bộ máy công vụ  của UBNDTPHCM ( người dân không được nhận quyết định này – như Điều 3 và Nơi nhận )  và do đó họ cũng không có trách nhiệm thi hành. Thế mà từ UBNDQ9, UBNDTPHCM, TANDTP đến Thanh tra Chính phủ, TANDTC đều “ buộc” người dân phải thực hiện! Đó là điều hết sức vô lý!!!
         Theo Thanh tra Chính phủ, UBNDTPHCM, UBNDQ9, TANDTPHCM, TANDTC… cho rằng QĐ 2666 là quyết định thu hồi đất đối với ông Ngữ và hàng trăm hộ dân khác, vậy xin quý cơ quan trên hãy chỉ ra trong QĐ 2666 này có chi tiết nào thể hiện ông Ngữ phải thi hành? Chi tiết nào thể hiện đất ông Ngữ nằm trong KCNC bị thu hồi? Và bị thu hồi bao nhiêu mét vuông?… Thưa quý cơ quan công quyền! Việc này phải công khai, minh bạch trả lời rõ ràng cho người dân, chứ không thể ậm ờ … nói là đúng pháp luật một cách chung chung, mà không nêu đúng theo điều luật cụ thể nào được!
          Gần đây thấy có xuất hiện công văn 361/NTNMT-ĐĐ ngày 30/01/2008 của Bộ Tài Nguyên Môi trường v/v ban hành quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong một số trường hợp cụ thể, công văn trả lời Sở Tài nguyên Môi trường TPHCM, do ông Bùi Ngọc Tuân TL Bộ trưởng, KT Vụ trưởng Vụ đất đai, có 2 nội dung:
“1.Đồng ý với ý kiến của Sở Tài nguyên và Môi trường nêu tại điểm 1 Công văn số 245/TNMT-QHSDĐ; đối với các trường hợp thu hồi đất mà đã có quyết định thu hồi đất của UBND cấp tỉnh theo quy định của pháp luật về đất đai trước luật đất đai năm 2003 thì UBND cấp huyện không phải ban hành quyết định thu hồi diện tích đất cụ thể đối với từng thửa đất do hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng.
2.Trường hợp Thủ tướng Chính phủ hoặc UBND cấp tỉnh đã có quyết định thu hồi đất trước Luật đất đai năm 2003 nhưng việc bồi thường chậm thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất thì UBND cấp huyện cũng không phải ban hành quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Giá đất được áp dụng theo giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường.”
          Sau khi nghiên cứu văn bản này, tôi có vài ý kiến:
1.Văn bản này không phải văn bản quy phạm pháp luật, không có giá trị thi hành đối với người dân và các cơ quan thực thi pháp luật, nhưng nó đã góp phần gây thêm khó khăn cho người dân.
2.Lập luận là “UBND cấp huyện không phải ban hành quyết định thu hồi diện tích đất cụ thể đối với từng thửa đất do hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng”, lập luận này trái với Điều 21 nêu trên. Vì quyết định định chung không thể xác định ai là người bị thu hồi? Thu hồi bao nhiêu mét vuông, ở đâu?… Và như thế cũng không có cơ sở để tính giá trị bồi thường. ( trong toán học gọi là thiếu dữ liệu thì không thể có đáp số được ( nếu có cũng  chỉ là copy của người khác hoặc đoán mò, không có cơ sở).
3. Ý kiến của ông này ( danh chính là của ông Bộ trưởng ) trái ngược với ý kiến của ông Chu Phạm Ngọc Hiển, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường phát biểu trong buổi đối thoại với nông dân Văn Giang ngày 21/08/2012, đã khẳng định: “… quyết định thu hồi đất là quyết định hành chính, không phải là văn bản quy phạm pháp luật, nên phải tống đạt đến đối tượng thi hành. Việc người dân không nhận được quyết định là lỗi của chính quyền địa phương”.
      Tiếp tục tranh luận về Điều 21, tại trang Công dân chống tham nhũng của cụ Lê Hiền Đức ra ngày 22/04/2013 có bài “Công dân quận 9 tố cáo Lê Thanh Hải” ( xem tại http://lehienduc2013.blogspot.com/2013/04/cong-dan-quan-9-to-cao-le-thanh-hai.html ) có đoạn: “ Chúng tôi nhận thấy về chữ nghĩa điều luật này là rất chuẩn. Mấy cháu học chưa hết trung học cơ sở cũng hiểu là quyết định phải ghi rõ ràng tên người bị thu hồi đất, số diện tích đất bị thu hồi và ở vị trí nào… mới đúng quy định của điều 21 này. Nếu ông Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường giải thích kiểu ông Lê Tiến Hào chúng tôi sẽ kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội trả lời về mặt pháp luật; Ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo trả lời về ngữ  nghĩa tiếng  Việt của câu văn trên”.
          Từ phân tích nêu trên, tôi cho rằng UBNDQ9 cưỡng chế để lấy đất ông Ngữ ( và một số người dân khác )  là vi phạm pháp luật. Có người cho rằng không ban hành hay không tống đạt quyết định thu hồi đất đến họ, mà đem lực lượng đông đảo đến phá nhà lấy đất của họ  là hành vi cướp đất . Không phải hành vi của cơ quan nhà nước: của dân, vì dân và do dân, vì việc làm này không chính danh và không minh bạch.
          Từ khi nhận quyết định cưỡng chế, ông Ngữ liên tục khiếu nại, yêu cầu Chủ tịch UBNDTP tống đạt QĐ 2666 cho ông, nhưng đến nay Chủ tịch UBNDTP vẫn chưa tống đạt quyết định này. Tôi nghĩ yêu cầu này của ông Ngữ là chính đáng và hợp pháp, đó là quyền công dân của ông.
         Còn quyết định 3022/QĐ-UB, tôi đã dùng “kính lúp” soi thật kỹ QĐ3022, nhưng cũng không tìm thấy tên một người nào đang sử dụng đất  bị thu hồi trong QĐ này. Có lẽ vì thế mà trong các văn bản của UBNDQ9 và UBNDTPHCM không thấy nhắc đến QĐ này nữa.
          Thật oan ức cho người dân: không được  nhận  quyết định thu hồi đất mà bị cưỡng chế vì tội không thi hành (?!). Họ căn cứ vào đâu để thi hành, để giao đất cho UBNDQ9 ( KCNC) ? Tại các bản án của TANDTPHCM, TANDTC các năm 2006, 2007… đều cho rằng QĐ 2666 chỉ sai về hình thức không phải là vi phạm nghiêm trọng, không ảnh hưởng đến nội dung (!!! ), từ đó bác các đơn kiện của một số người dân. Điều hơi lạ là bản án số 274/2007/HCST, bản án số 86/2007/HC-PT… lại ghi nhận ý kiến của đại diện UBNDTPHCM và Ban Quản lý Khu công nghệ cao thành phố về việc xác định tính đúng đắn của QĐ 2666, xem như các ý kiến có tính chất thẩm định !!!. Theo tôi, người dân yêu cầu hủy bỏ QĐ 2666 là sai, vì đây là quyết định chỉ đạo điều hành bộ máy của UBNDTP. Nhưng các cơ quan nhà nước buộc người dân phải thực hiện quyết định này, trong khi QĐ này không minh thị danh tính của họ và không tống đạt đến họ là vô lý, vô cớ,  quá oan ức cho họ, biểu hiện ở đỉnh cao của tình trạng mất dân chủ (!).
         Về QĐ 2666 nêu trên, luật sư Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ tịch Hội Luật gia TPHCM cũng khẳng định không phải quyết định thu hồi đất khi luật sư này tư vấn vụ khiếu nại của bà Đặng Thị Hoa tại 36/7 Chân Phúc Cẩm, phường Long Thạnh Mỹ, Quận 9 ( xem bài “Quận 9: Ủi sập nhà dân mới biết ký sai thẩm quyền?! tại http://phapluatvn.vn/nhipcaubandoc/dieu-tra/201202/Quan-9-ui-sap-nha-dan-moi-biet-ky-sai-tham-quyen-2063161).

           Gần đây Luật sư Trần Vũ Hải cũng cho rằng cưỡng chế thu hồi đất của ông Ngữ mà trước đó không ra quyết định thu hồi đất của người đang sử dụng đất là vi phạm pháp luật đất đai, điều này là rõ ràng và không cần phải bàn cãi. Bạn lm_lawyerx0 tại http://danluat.thuvienphapluat.vn/kien-quyet-dinh-hay-kien-hanh-vi-58747.aspx?PageIndex=2, cũng bảo rằng: ông Ngữ không phải thi hành QĐ 2666, và UBNDQ9 không được cưỡng chế thu hồi đất của ông… Có hơn 10 tờ báo chính thống đã lên tiếng vụ cưỡng chế thu hồi đất của ông Ngữ là sai pháp luật, trong đó có Báo Đại Đoàn kết với bài: Trở lại loạt bài “Quận 9 – TP.Hồ Chí Minh: những vụ cưỡng chế lạ lùng”:Vô cảm hay “dối trên lừa dưới”?

(http://daidoanket.vn/PrintPreview.aspx?ID=3099), báo Tài nguyên Môi trường với bài: Thu hồi đất của dân không đúng luật.

(http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&cateID=4&id=67079&code=CZ0YR67079). Ngày 29/10/2012, Câu lạc bộ Truyền thống kháng chiến TPHCM – Khối Trí thức cũng có Thư yêu cầu Chủ tịch UBNDTPHCM xem xét lại vụ thu hồi đất của ông Ngữ…

          Vụ ông Ngữ, bà Trần Thị Quốc Khánh, Đại biểu Quốc hội ( Đoàn Hà Nội )  cuối nhiệm kỳ QHXII có đưa ra chất vấn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ( báo có đưa tin ), sau đó Văn phòng Chính phủ có ban hành hai văn bản ( 4642/VPCP-KNTN ngày 06/07/2010 và 6687/VPCP-KNTN ngày 21/09/2010), truyền đạt ý kiến  của Thủ tướng là yêu cầu Chủ tịch UBNDTPHCM giải quyết khiếu nại cho ông Ngữ và báo cáo cho Thủ tướng trước ngày 15/10/2010, nhưng đến  nay (12/07/2013 ) Chủ tịch UBNDTPHCM vẫn chưa ra QĐ giải quyết khiếu nại cho ông Ngữ!? Tôi chưa biết vì lý do gì ? Nhưng tại công văn 338/UBND-BBT ngày 17/03/2010 của UBNDQ9 có đoạn: “ Bằng văn bản này, UBNDQ9 kết thúc thụ lý đơn kiến nghị của hộ ông Nguyễn Xuân Ngữ. Nếu hộ ông Ngữ tiếp tục nộp đơn kiến nghị với các nội dung như trên thì UBNDQ9 sẽ xử lý lưu tham khảo theo quy định”. Trong lúc đó ( cả đến hôm nay ), UBNDQ9 chưa ra QĐ giải quyết khiếu nại QĐ cưỡng chế ( QĐ 13 ) cho ông Ngữ ( tôi không biết đây là quy định nào, hay quy định do UBNDQ9 tự đặt ra, thiếu tôn trọng người dân?). Tiếp theo, ngày 19/01/2011 tại công văn 227/UBND-PCNC của Chủ tịch UBNDTP, do ông Nguyễn Thành Tài, phó Chủ tịch thường trực ký thay,  cũng có đoạn: “UBNDTP trả lời cho ông rõ và thông báo chấm dứt tiếp nhận để xử lý, xem xét các nội dung tương tự như trên”, trong khi đó Chủ tịch UBNDTPHCM chưa một lần ra QĐ giải quyết khiếu nại cho ông Ngữ theo luật Khiếu nại tố cáo kể cả khi Thủ tướng Chính phủ có ý kiến yêu cầu giải quyết khiếu nại cho ông Ngữ đúng theo quy định của pháp luật…nhưng Chủ tịch UBNDTPHCM vẫn không thực hiện, mà khi phó Chủ tịch UBNDQ9 “ phán” chấm dứt giải quyết ( trái pháp luật ) thì Chủ tịch UBNDTPHCM cũngvâng lời. Sự thật như đùa: phó Chủ tịch UBND Quận có uy hơn cả Thủ tướng Chính phủ(!). Tôi rất đau lòng buộc phải viết lên những dòng này, và trăn trở với suy nghĩ : một nền hành chính không còn trật tự kỷ cương gì sao?
            Trở lại vụ ông Ngữ, tôi khẳng định đây là vụ vi phạm pháp luật nghiêm trọng của UBNDQ9 và UBNDTPHCM. Trước khi gửi thư này cho Đại biểu Quốc hội và các cơ quan ở Trung ương, năm 2009  tôi đã có gửi thư cảnh báo đến HĐND và UBNDTPHCM và các ngành chức năng của thành phố: việc cưỡng chế thu hồi đất này là sai pháp luật, nhưng các tổ chức và cá nhân có thẩm quyền không quan tâm xem xét và phản  hồi ! ( theo quý vị, thái độ ứng xử như vậy có đúng và có tốt không?Bây giờ tôi là dân- nói theo Bác Hồ- dân là chủ, tôi đã có hơn 50 năm làm việc là đồng đội, đ/c của quý vị, mà bây giờ quý vị ngoảnh mặt đi, tôi hỏi quý vị không thèm trả lời, tôi gửi thư phản ảnh, quý vị không thèm hồi âm… thái độ đó có phải khinh dân, coi thường dân không? thật là chua xót ?! Có người bạo mồm nói đó là: “hội chứng  vô cảm của các quan”. Nói rộng ra, thái độ đó có phù hợp là chính quyền của  dân, vì dân, do dân và do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo như Điều 4 Hiến pháp và Điều lệ Đảng không?).Nếu không phù hợp thì thái độ của lãnh đạo Đảng, Nhà nước phải làm gì chứ không thể để dân cứ gửi đơn kêu oan trong vô vọng mãi. Xin thưa với quý vị: không có thế lực thù địch nào có thể tách  Đảng ra khỏi nhân dân, mà chỉ có những cán bộ thoái hóa biến chất mới làm cho Đảng suy yếu, nhân dân mất niềm tin, xa lánh…)
           Nay tôi kính đề nghị quý vị có trọng  trách Tối cao của Đảng và Nhà nước hiện nay xem chi tiết vụ việc tại http://www.google.com , với từ khóa Nguyễn Xuân Ngữ. Kính mong quý vị quan tâm đến tiếng kêu oan của người dân, nên kiểm tra thực tế để làm rõ các vấn đề mà đơn khiếu nại và đơn tố cáo của ông Ngữ đã nêu ra.Trong các đơn ông Ngữ đều có nêu chứng lý đầy đủ. Đề nghị quý vị tổ chức điều tra, đối chất làm rõ các chứng lý đó thực hư như thế nào rồi mới kết luận. Khẳng định dứt khoát các quyết định của UBNDQ9 có vi phạm pháp luật hay không? Việc Chủ tịch UBNDTPHCM không giải quyết khiếu nại cho ông Ngữ theo luật khiếu nại tố cáo và theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ là đúng hay sai? Việc Chủ tịch UBNDTPHCM không tống đạt QĐ 2666  cho ông Ngữ mà buộc ông phải thi hành, giao đất… như thế có quá ép ông Ngữ và có dân chủ không? Việc cưỡng chế thu hồi đất này là đúng hay sai? Nếu đúng là đúng theo điều luật nào? Tôi đề nghị quý vị tổ chức đoàn kiểm tra giám sát có tâm và có kiến thức pháp luật đến tận nơi, xem xét từng hồ sơ, tổ chức đối thoại, đối chất với người khiếu nại, có cả luật sư tham gia, không nên chỉ nghe ông Nguyễn Văn Thành phó Chủ tịch UBNDQ9 báo cáo như Chủ tịch UBNDTPHCM ký công văn số 227/UBND-PCNC ngày 19/01/2011 và ông Trần Ngọc Liêm – Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ  ký công văn 354/TTCP-VP ngày 03/03/2010 mà ông Ngữ đã có văn bản phản bác hai ông này, cho rằng hai ông này chỉ “vâng lời” phó Chủ tịch UBNDQ9!? Vì phó Chủ tịch UBNDQ9 ban hành các quyết định sai ràng ràng ( QĐ 3144, QĐ 13… ) và cưỡng chế thu hồi đất với lý do không thực hiện QĐ 2666, trong khi QĐ 2666 không tống đạt đến ông… mà ông Liêm và Chủ tịch UBNDTPHCM vẫn cho là UBNDQ9 thực hiện  đúng pháp luật!? ( Tôi và một số luật sư, một số cơ quan báo đài thật sự không hiểu là đúng theo pháp luật nào?Có phải hai ông này nói đại, nói bừa, bất chấp quy định của pháp luật?! ). Các cơ quan Trung ương ( có cả cơ quan Đảng ) cứ làm công văn và phiếu chuyển, yêu cầu Chủ tịch UBNDTP giải quyết khiếu nại và báo cáo…xem như đã làm hết trách nhiệm!!! Nhưng Chủ tịch UBNDTP không giải quyết mà cũng không thấy kiểm tra xử lý gì cả, để mặc cho người dân cứ kêu oan trong vô vọng…Trong lúc đó Quy định số 94/QĐ-TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, trường hợp này  phải xử lý!!! Hoặc Thông báo số 130-TB/TW ngày 10/01/2008 của Bộ Chính trị chỉ đạo giải quyết dứt điểm  khiếu kiện của công dân…Tôi nhớ trong Đảng có phương châm: “lãnh đạo mà không kiểm tra, coi như không có lãnh đạo”. Điều 4 Hiến pháp cũng quy định Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, tại sao một số cơ quan Đảng để một số cơ quan nhà nước áp bức người dân đến cùng đường như vậy? “Một bộ phân không nhỏ” này làm mất uy tín Đảng, làm mất niềm tin trong dân ghê gớm, quý vị có nghe tiếng kêu oan của người dân không? Tôi được biết trong đợt góp ý sửa đổi  hiến pháp 1992 vừa qua, các cơ quan thu lại được nhiều phiếu góp ý chỉ ghi vỏn vẹn hai chữ “đồng ý”. Là đảng viên, nghe tin này gợi cho tôi nhiều suy nghĩ buồn lo hơn là vui. Truyền thông đưa tin thì có vẽ vui mừng …
           Trở lại vụ ông Ngữ. Sau khi nhận được QĐ cưỡng chế ( QĐ 13 ), ông Ngữ kêu oan, khiếu nại nhưng Chủ tịch UBNDQ9 và Chủ tịch UBNDTP không ra QĐ giải quyết khiếu nại. Cần nói thêm: Trong QĐ 13 ngoài việc căn cứ các quy định pháp luật hết hiệu lực còn chứa đựng một chi tiết gian trá rất quan trọng khác gây ngộ nhận cho mọi người. QĐ 13 nêu: Căn cứ quyết định số 422/QĐ-UBND-TTr ngày 23/10/2006 của Chủ tịch UBNDTPHCM về giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Xuân Ngữ… Đây phải nói là một thủ đoạn “cao cơ” rất thâm độc là làm cho một số cơ quan chức năng ( thường thì rất quan liêu, chỉ dựa vào báo cáo )  ngộ nhận rằng ông Ngữ ngoan cố không chấp hành các quy định của pháp luật, nên việc UBNDQ9 ra QĐ cưỡng chế là đúng. Thực tế thì Chủ tịch UBNDTPHCM chưa hề có QĐ giải quyết khiếu nại ( mặc dù ông Ngữ đã gửi nhiều đơn khiếu nại ), QĐ 422 nêu trên là QĐ giải quyết lần đầu của Chủ tịch UBNDQ 9 ? Đây là thủ đọan lừa dối chứ không phải nhầm lẫn của cơ quan Nhà nước. ( sau khi cưỡng chế tan tành, sáu tháng sau UBNDQ9 mới ban hành QĐ đính chính chi tiết này!!! Quý vị có nhận định gì về hành vi này?).
       Ngày 30/12/2009 ông Ngữ nộp đơn khởi kiện tại TANDQ9, ngày 01/02/2010 TANDQ9 lại trả đơn khởi kiện với lý do QĐ cưỡng chế thu hồi đất ( QĐ 13 ): “ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính ( đã được sửa đổi, bổ sung năm 2006 )” . Đúng là không còn oan ức nào hơn, quyết định cưỡng chế hành chính để thu hồi đất, mà Tòa án lại cho rằng không phải quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai ??? Trong khi QĐ 2666 Tòa lại cho là QĐ thu hồi đất (!?). Tôi có cảm giác như ở đây chân lý đang bị một số cơ quan tài phán bẻ cong, đảo lộn… một cách tùy tiện.  Với những nhận định kiểu này, người dân thấp cổ bé miệng chỉ biết thốt lên: “Lời của quan có gan có thép”, Thẩm phán nhân danh Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đầy quyền uy, phán sao mà chẳng được (!?). Trong lúc đó có Tòa lại thụ lý loại vụ khiếu kiện này!?. Một lần nữa ông Ngữ lại phải ngậm bồ hòn…
          Sau khi có NQ 56/2010/QH12 về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính, người dân rất mừng, tưởng như người sắp chết đuối mà ôm được chiếc phao cứu sinh!
         Ngày 11/08/2011 ông Ngữ khởi kiện hành vi hành chính của Chủ tịch UBNDTPHCM về việc không tống đạt QĐ 2666 đến ông. Ngày 13/10/2011 thẩm phán Trần Thị Hồng Việt  (TANDTPHCM ) ký Thông báo số 2827/TATP-VP v/v trả đơn kiện, với lý do: “ Theo điểm a khoản 1 điều 104 Luật Tố tụng hành chính, thời hiệu khởi kiện đối với quyết định số 2666/QĐ-UBND ngày 27/6/2002 của UBNDTPHCM đã hết”. Ông Ngữ khiếu nại, cho rằng không tìm thấy điểm a nào trong khoản 1 Điều 104 LTTHC (?!), hơn nữa hành vi hành chính của Chủ tịch UBNDTP được xác định từ ngày Chủ tịch UBNDTP ban hành công văn 227/UBND-PCNC tức là ngày 19/01/2011 ( ngày ông được Chủ tịch UBNDTP chính thức cho biết ông phải thực hiện quyết định 2666/QĐ-UB), thì hành vi hành chính: không tống đạt quyết định hành chính cho ông còn trong thời hiệu khởi kiện ( theo NQ 56 ), lập luận của ông Ngữ tôi thấy đúng, vì trước đó ông đã yêu cầu Chủ tịch UBNDQ9 và Chủ tịch UBNDTP tống đạt QĐ 2666 đến cho ông để ông nghiên cứu thi hành hoặc khiếu nại, đó là quyền công dân của ông, không có ai được phép tước quyền đó của ông. Vì QĐ 2666 của UBNDTP không biểu thị tên ông và cũng không tống đạt đến ông  thì ai có quyền khẳng định ông có trách nhiệm thi hành? Chỉ có Chủ tịch UBNDTP chứ không ai có quyền khẳng định trách nhiệm này, và ngày Chủ tịch UBNDTP lần đầu tiên lên tiếng về vụ việc của ông và khẳng định điều đó là ngày 19/01/2011. Thế mà ngày 28/02/2012 Phó Chánh án TANDTPHCM  ký quyết định số 46/2012/QĐGQKN-HC bác đơn khiếu nại của ông với lý do hết thời hiệu! Tòa án Nhân dân ( tôi xin viết đậm chữ nhân dân), mà không quan tâm đến  nổi oan ức của người  dân bị cưỡng chế thu hồi đất mà không được nhận quyết định thu hồi đất ( !!!), mà tòa lại cố tình bảo vệ việc làm sai trái của cơ quan Nhà nước?( Nhân đây tôi xin nói thêm là vừa qua báo chí có đưa tin một số tòa án được nhận cờ thi đua của Chính phủ. Thật tình tôi không hiểu nổi: Cơ quan Hành pháp mà có quyền khen cả cơ quan Tư pháp?!).
        Sau khi bị TANDTPHCM bác đơn, ông Ngữ đã gửi đơn khiếu nại đến TANDTC. Gửi đơn khiếu nại, nhưng trong lòng ông không có niềm tin. Tình trạng này chắc cái “phao cứu sinh” cũng không cứu được ông!? Ông Ngữ chỉ biết ngóng cổ chờ TANDTC nhỏ chút giọt công lý cho mình chứ còn biết làm gì nữa ?! Đúng là phận làm  dân trong trường hợp này là quá khổ, quá bế tắc…thưa quý vị!
            Đúng như ông Ngữ dự đoán, ngày 19/11/2012, TANDTC ban hành quyết định số 533/2012/QĐ-THC v/v giải quyết đơn khiếu nại.Trong quyết định có trích dẫn:
  “ Điều 28 Luật tố tụng hành chính có hiệu lực 01/07/2012.
 Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án:
1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.
2. Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
3. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.
4. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
      Luật nêu rõ ràng như vậy, thế mà Tòa án nhân dân Tối cao lại cho rằng: Đối chiếu với quy định trên, thì  các nội dung mà ông khiếu kiện theo đơn khởi kiện ngày 11/8/2011 với nội dung đã nêu trên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng vụ án hành chính.
     Rồi Tòa Tối cao quyết định không ăn nhập với nhận định trên: “Không chấp nhận khiếu nại của ông  Nguyễn Xuân Ngữ; giữ nguyên quyết định giải quyết khiếu nại số 46/2012/QĐGQKN-HC ngày 28/02/2012 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh”.
        Người dân thấp cổ bé miệng thì đành ôm “ cục tức” vào lòng thôi, vì vụ oan ức đã đưa tới tận “thiên đình”! Theo pháp lý là cùng đường rồi!!!
      
      Kính thưa quý vị, quý vị thấy gì sai trong quyết định 533/2012/QĐ-THC  này?
      Để khỏi mất thời gian của quý vị, tôi xin phép chỉ ra cho quý vị thấy chỗ sai, đó là:
1.Tòa Tối cao hiểu không đúng khoản 1 Điều 28, nêu trên. Điều này khẳng định thẩm quyền giải quyết  của Tòa là các quyết định hành chính, hành vi hành chính (chỉ  trừ vụ việc … thuộc bí mật nhà nước…). Thì việc ông Ngữ khởi kiện Chủ tịch UBNDTPHCM không tống đạt QĐ 2666 đến ông mà bắt ông phải chấp hành, thì làm sao không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng vụ án hành chính ?( việc không tống đạt quyết định (được cho là quyết định thu hồi đất- QĐ 2666) mà  Tòa lại cho là bí mật nhà nước hay sao?hoặc công việc tống đạt không phải hành vi hành chính thì nó là cái gì? )
2.Quyết định 533 lại nêu: “Không chấp nhận khiếu nại của ông  Nguyễn Xuân Ngữ; giữ nguyên quyết định giải quyết khiếu nại số 46/2012/QĐGQKN-HC của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh”. Lẽ ra, nếu Tòa Tối cao cho rằng không thuộc phạm vi giải quyết của Tòa ( như nhận định trên ), thì Tòa Tối cao hủy luôn quyết định của Tòa TPHCM mới đúng, đằng này TANDTC giữ nguyên, nghĩa là chấp nhận, cũng có nghĩa là việc khiếu kiện của ông Ngữ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa!!!( TANDTPHCM  bác đơn khởi kiện của ông Ngữ vì cho rằng quá thời hiệu, chứ không phải bác vì không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa, như nhận định của Tòa Tối cao, mà Tòa Tối cao lại  giữ nguyên?).  Lập luận của tòa sao mà mâu thuẫn vậy?
         Tiếp theo, ngày 27/03/2013, phó Chủ tịch UBNDTPHCM, Lê Minh Trí ký Thông báo số 73/TB-UBND về chấm dứt thụ lý giải quyết vụ việc tố cáo của ông Nguyễn Xuân Ngữ, quận 9 (Ông Lê Minh Trí nay đã được bổ nhiệm phó Ban Nội chính Trung ương ). Trong thông báo này có thông tin cho biết là thực hiện theo Chỉ thị 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng và Kế hoạch số 1130/KH-TTCP ngày 10/5/2012 của Thanh tra Chính phủ, UBNDTPHCM phối hợp với Thanh tra Chính phủ và các ngành chức năng tiến hành rà soát… Tại thông báo 73/TB-UBND  này lại tiếp tục làm sai chỉ thị 14 của Thủ tướng tại mục 1.e Tổ chức thi hành nghiêm túc, triệt để các quyết định giải quyết khiếu nại, các quyết định xử lý tố cáo…; Sai hướng dẫn 2695/TTCP-VP ngày 19/10/2012 của Thanh tra Chính phủ tại bước 2 của quy trình: Tổ chức đối thoại. Nghĩa là vụ việc khiếu nại tố cáo của ông Nguyễn Xuân Ngữ chưa có một quyết định giải quyết khiếu nại cũng như chưa tổ chức đối thoại một lần nào. Thế mà Chủ tịch UBNDTPHCM thống nhất với Thanh tra Chính phủ tại Biên bản 26/BB-UBND-TTCP ngày 10/01/2013 và kết luận: UBNDTPHCM và UBNDQuận 9 làm “Đúng pháp luật” ? Cưỡng chế thu hồi đất mà không có quyết định thu hồi đất và không tống đạt quyết định cho người có trách nhiệm thi hành mà bảo đúng pháp luật? Tôi đọc hết các luật đất đai và luật hành  chính  từ trước đến nay không thấy điều nào quy định như vậy cả?
          Vấn đề này có nằm trong  cái gọi là “lỗi hệ thống” mà đ/c Nguyễn Văn An, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Chủ tịch Quốc hội đã nói hay do “ lợi ích nhóm” chi phối ?
           Dù với lý do nào, Đảng ta với vinh dự và trọng trách lãnh đạo Nhà nước và xã hội, thì lãnh đạo Đảng không thể làm ngơ trước việc làm sai pháp luật của cơ quan nhà nước và nổi oan ức của người dân- người cựu chiến binh!
         Người dân đã gửi đơn khiếu kiện khắp nơi, nhiều luật sư, cơ quan, báo đài khẳng định  chính quyền vi phạm pháp luật. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các Ủy ban của Quộc hội, các ban của Trung ương Đảng …thì chỉ làm phiếu chuyển là hết trách nhiệm. Còn các cơ quan có trách nhiệm trực tiếp giải quyết như  UBND quận, UBND thành phố, Thanh tra, Tòa án… đều nói chính quyền làm đúng pháp luật ( mà không chỉ ra đúng theo điều luật nào, chỉ nói đúng chung chung ), còn người dân thì sai, nên phải bị cưỡng chế, họ cũng chưa biết họ sai theo điều luật nào? Chả lẽ cứ nhắm mắt giao đất cho “nhà nước” là tốt, là đúng; còn không giao ( vì cơ quan nhà nước không tống đạt quyết định thu hồi đất đến họ) là sai ?! Tôi được biết có hàng chục người ký đơn tố cáo và yêu cầu xử lý sai phạm, trả lại công bằng cho người dân bị chính quyền cưỡng chế lấy đất sai pháp luật cho Khu công nghệ cao quận 9, TPHCM. Bản thân tôi, ông Ngữ và người dân bị cưỡng chế thu hồi đất cho KCNC quận 9 chỉ còn kỳ vọng vào các cơ quan lãnh đạo tối cao của Đảng và Nhà nước. Nếu các quý vị thật lòng chống tham nhũng, thật lòng chỉnh đốn Đảng chứ không phải ra nghị quyết chỉ để an dân, thì quý vị hãy phanh phui, làm đến nơi đến chốn ( ý tôi muốn nói không nên ém nhẹm, nhận chìm, không chỉ nghe người bị khiếu nại tố cáo biện minh ). Phanh phui  vụ vi phạm pháp luật nghiêm trọng tại dự án Khu Công Nghệ Cao TPHCM thì chắc chắn sẽ làm được một phần trọng trách đó. Quý vị  “cho hốt liền” ( trích lời ông Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban Nội chính Trung ương tại Đà Nẵng 10/01/2013, xem tại  http://laodong.com.vn/su-kien-binh-luan/cho-hot-lien-khong-noi-nhieu/99030.bld ) có thể được nhiều “ sâu”, có thể có cả “sâu to” nữa. Người dân dám ký đơn tố cáo, có ghi họ tên, số CMND… ( tức là họ dám chịu trách nhiệm trước pháp luật về những điều họ nêu ra, vì nói sai thì mang tội vu khống ) . Vậy thì quý vị có muốn và có dám chống tham nhũng không? ( Người dân làm theo lời kêu gọi của Chủ tịch Trương Tấn Sang tại buổi tiếp xúc cử tri quận 1 và quận 3 sáng 17/10/2012 xem tạihttp://laodong.com.vn/chinh-tri/chu-tich-truong-tan-sang-chong-tham-nhung-dung-so-tru-um/88067.bld, nên họ ký đơn tố cáo. Nếu quý vị thật sự muốn và có dũng khí chống tham nhũng thì hãy xem xét đơn tố cáo của công dân quận 9 đã gửi cho quý vị, hoặc xem tại:http://lehienduc2013.blogspot.com/2013/04/cong-dan-quan-9-to-cao-le-thanh-hai.html

           Nhiều báo đài đã lên tiếng:UBNDQ9 cưỡng chế thu hồi đất của ông Ngữ  là sai pháp luật. Báo Tài nguyên & Môi trường ngày 17/06/2009 có bài : “Thu hồi đất của dân không đúng luật” ( xem tại:

http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&cateID=4&id=67079&code=CZ0YR67079 ,   báo Đại Đoàn kết ngày 08/10/2009 có bài: “Trở lại lọat bài “Quận 9 – TP.Hồ Chí Minh: Những vụ cưỡng chế lạ lùng”:Vô cảm hay “dối trên lừa dưới”                   

http://daidoanket.vn/PrintPreview.aspx?ID=3099 ).v.v.

         Qua hành trình khiếu kiện 10 năm của ông Ngữ, tôi có một nghi vấn: Đây có phải là “chiêu” hay “chiến thuật” : chây ì – phối hợp chặt chẽ trong cái gọi là “lợi ích nhóm”?: trên cứ ra công văn, phiếu chuyển, còn Chủ tịch UBNDTP thì cứ làm thinh, giả vờ như không nghe thấy gì cả, còn Tòa án và Thanh tra Chính phủ đóng vai trò làm cái phao, làm chỗ dựa bằng cách cứ nói là UBNDQ9 và UBNDTPHCM làm đúng pháp luật , không cần nêu theo điều luật nào… “Chiêu” này nhằm ngăn chặn tất cả lối đi cũng như mọi niềm hy vọng của người bị oan sai, khiếu kiện? Đây có phải là dấu hiệu: các cơ quan công quyền lợi dụng quyền công vụ đứng về một phía nhằm cưỡng ép người dân cho đến cùng đường không ? Ông Ngữ từ trước đến nay chỉ yêu cầu các cơ quan Nhà nước thực thi đúng pháp luật, thượng tôn pháp luật của một Nhà nước pháp quyền vì đó là mục tiêu mà gia đình ông và cả cuộc đời ông đã  chiến đấu, hy sinh…

          Trong đơn kêu oan, ông Ngữ cho là chính quyền Quận 9 và TPHCM thu hồi đất sai pháp luật, nhưng dùng quyền công vụ  quy kết ngược lại để cưỡng chế ông, những người chống lại thì bị bắt giam vì tội “ chống người thi hành công vụ ?” ( Có thứ công vụ nào là công vụ sai pháp luật? nhưng vẫn nhân danh công vụ?).
         Ngoài ra ông Ngữ có nghi ngờ là ông Thành, phó Chủ tịch UBNDQ9 có nhầm lẫn trong thực hiện các dự án như báo Phụ nữ ngày 04/09/2004 có bài : “Dự án tái định cư Long Bửu, quận 9: Mập mờ đền bù giải tỏa”, và như vậy có thể là đất của ông không nằm trong quy hoạch Khu công nghệ cao thành phố !?
        Qua báo chí người dân quận 9 được biết có nhiều Quyết định của Thủ tướng Chính phủ xác định quy mô KCNCTPHCM, gồm: QĐ 95/2003/QĐ-TTg ngày 13/05/2003 quy mô 804 ha; QĐ 458/QĐ-TTg ngày 18/04/2007 quy mô 913,1633 ha; QĐ 24/QĐ-TTg ngày 06/01/2010 quy mô 872 ha. Theo luật hành chính, quyết định của cùng một cấp, quyết định sau phủ định quyết định trước và phủ định quyết định của cấp dưới về một nội dung. Từ đó, người dân quận 9 kính đề nghị Quốc hội, Thủ tướng và các Bộ, Ngành trung ương, đặc biệt là Bộ Tài nguyên Môi trường cung cấp cho họ bản đồ được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Khu Công Nghệ Cao ( KCNC )  872 ha và bản đồ KCNC 913,1633 ha để họ đối chiếu xem đất của họ có nằm ngoài KCNC được duyệt sau cùng hay không? Luật Đất đai và Luật phòng chống tham nhũng bắt buộc chính quyền  phải công khai, minh bạch thông tin này cho người dân.
           Đối chiếu các vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng- Hải Phòng hoặc ở Văn Giang – Hưng Yên với các vụ cưỡng chế thu hồi đất giao Khu công nghệ cao ở Quận 9 –TPHCM tôi thấy có những điểm tương đồng.
          * Chính quyền Hải Phòng dựa vào bản án số 13/2007/HC-GĐT ( 26/12/2007) của TANDTC làm cơ sở về mặt pháp lý để tiến hành cưỡng chế toàn bộ diện tích 70 ha đất của ông Lê Đình Thảo ( xem tại http://vov.vn/Xa-hoi/Xem-xet-lai-vu-cuong-che-70ha-o-Tien-Lang-Hai-Phong/200425.vov).  Sau đó bản án này còn làm chỗ dựa để UBND huyện Tiên Lãng cưỡng chế lấy đất đầm tôm nhà ông Đoàn Văn Vươn  ngày 05/01/2012. Vụ này đã có tờ báo lên tiếng cảnh báo chính quyền làm sai pháp luật.( xem Báo Đối ngoại Vietnam Economic News, bài: Cống Rộc – Thách thức không đến từ biển http://www.ven.vn/cong-roc-thach-thuc-khong-den-tu-bien_t77c561n26722tn.aspx ; Cống Rộc đang “độc” vì ai?http://www.ven.vn/cong-roc-dang-doc-vi-ai_t77c561n26723tn.aspx ; Cống Rộc – Thách thức không đến từ biển , http://www.ven.vn/cong-roc-thach-thuc-khong-den-tu-bien_t77c561n26724tn.aspx . Tôi chép lại mấy dòng này với thông điệp là: dư luận đã phát hiện và lên tiếng cảnh báo công khai sai phạm của chính quyền từ rất lâu ( 7-2008), nhưng các cơ quan từ huyện, tỉnh, bộ, Tòa án TP, Tòa án Tối cao… đều “ nhất trí”một lời là chính quyền Tiên Lãng làm đúng, còn ông Vươn thì sai, phải bị cưỡng chế… mới sinh ra cớ sự ngày 05/01/2012).
          * Chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh thì dựa vào kết luận một cách khập khiểng của Thanh tra Chính phủ ( KL 256 ), các bản án của TANDTP, TANDTC, và công văn 361/NTNMT-ĐĐ ngày 30/01/2008 của Bộ Tài Nguyên Môi trường ( nêu trên ) để cưỡng chế lấy đất của hàng chục hộ dân một cách sai pháp luật.
         * Cả hai nơi đều sử dụng lực lượng cưỡng chế rất hùng hậu và rất chuyên nghiệp   ( mời xem video http://www.youtube.com/watch?v=1w1IX6wtToM ).
         * TPHCM và Văn Giang- Hưng Yên cũng không tống đạt quyết định thu hồi đất đến người dân mà lại quy kết họ không thi hành để cưỡng chế họ!!!
( Trong buổi đối thoại với nông dân Văn Giang ngày 21/08/2012, ông Chu Phạm Ngọc Hiển, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường đã khẳng định: “… quyết định thu hồi đất là quyết định hành chính, không phải là văn bản quy phạm pháp luật, nên phải tống đạt đến đối tượng thi hành. Việc người dân không nhận được quyết định là lỗi của chính quyền địa phương”, Ông Hiển chỉ dám nói tới đó, ông không dám nói toẹt ra rằng: “ người dân không nhận QĐ được thì họ có quyền không thi hành”, nhưng ai cũng hiểu đương nhiên là như vậy!).
           Tôi nghĩ:  trong vụ ông Ngữ có lẽ các cơ quan Nhà nước đã thấy sai, nhưng lúng túng không biết sửa sai như thế nào? “Lỡ phóng lao phải theo lao”. Bởi vì nếu giải quyết đúng quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Ngữ, không khéo một số hộ dân khác lại khiếu nại, Nhà nước phải chi một khoản ngân sách khá lớn, tốn kém và tình hình thêm  phức tạp…thôi thì mong sao  các cấp các ngành ( làm như ở Tiên Lãng – Hải Phòng) , cùng “ đồng thanh, nhất trí” là việc thu hồi đất cho  dự án xây dựng Khu công nghệ cao: “Quận 9 – TPHCM làm đúng pháp luật” (!) để người dân không còn đường đi, mệt mỏi, chán nản, buông xuôi, và cuối cùng là bỏ cuộc!!! Nhưng tôi nghĩ,  giải quyết cho ông Ngữ và người dân bị oan  sai,  cái được lớn hơn là xây dựng một Nhà nước pháp quyền, và lấy lại niềm tin của người dân. Đảng ta tuyên bố và chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền, hà cớ gì các cơ quan nhà nước lại không thượng tôn pháp luật?
           Tôi kính mong quý vị có trách nhiệm Tối cao của đất nước đừng để vụ ông Nguyễn Xuân Ngữ trở thành vụ Tiên Lãng thứ hai xảy ra tại TPHCM. Thành trì, chỗ dựa của Đảng và Nhà nước là lòng dân, đặc biệt là tinh thần chiến đấu của lực lượng Cựu Chiến binh…”.
        Bức thư tôi viết hơi dài, vẽ lên một góc tối thực trạng nền hành chính và nền tư pháp Việt Nam hiện nay, với mong muốn cung cấp để quý vị xem xét, có giải pháp chấn chỉnh trước khi quá muộn.
         Cuối cùng tôi xin thưa với quý vị có  trách nhiệm Tối cao của đất nước rằng: Dù phải đi đến đâu  tôi vẫn nói: “ Cưỡng chế thu hồi đất, mà trước đó không ban hành quyết định thu hồi đất và việc buộc người dân thực hiện quyết định mà không tống đạt quyết định đó đến họ là vi phạm pháp luật, là không dân chủ, không chấp nhận được”.
           Một lần nữa tôi xin nhắc lại Điều 21 LĐĐ 1993( sđ 1998, 2001):“ Việc quyết định giao đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó” để các quý vị suy ngẫm xem QĐ 2666 ( đính kèm ) của Chủ tịch UBNDTPHCM  có phải là quyết định thu hồi đất không? Quyết định này có minh thị ai là người đang sử dụng đất bị thu hồi, và thu hồi bao nhiêu mét vuông?… để giao cho Ban quản lý dự án Khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh ?
          Là một công dân, một cử tri, một cựu chiến binh, một luật gia, một luật sư, một nạn nhân chất độc da cam, một cán bộ hưu trí tôi rất quan tâm và tự thấy có trách nhiệm đến các vấn đề của đất nước, tôi trân trọng và tin tưởng ở quý vị, nên tôi gửi thư này đến quý vị. Tôi kính mong quý vị dành chút thời gian để xem xét  và có giải pháp giải quyết thấu lý, đạt tình đúng pháp luật, không nên chỉ đạo cho có theo kiểu “ Phiếu chuyển” qua loa, đập dập, để cho qua và không cần kiểm tra cấp dưới có làm đúng pháp luật hay không? ( quý vị nên kiểm tra một số chính quyền cấp dưới có còn là Chính quyền của dân, vì dân, do dân nữa hay không,  hay đã biến chất rồi ? Dạo này thấy nhiều người khiếu kiện đất đai  tới Trung ương. Mời quý vị xem bài: Thời sự – cướp đất tại http://daohieu.wordpress.com/category/th%E1%BB%9Di-s%E1%BB%B1-c%C6%B0%E1%BB%9Bp-d%E1%BA%A5t/ , hoặc bài: Ai đã giúp công ty Nhị Hiệp ngang nhiên cướp đất của dân, trên báo Người Cao tuổi tại http://nguoicaotuoi.org.vn/story.aspx?id=4929&lang=vn&zone=7&zoneparent=0hoặc tại  http://www.sggp.org.vn/nhipcaubandoc/2010/2/219002/ ; Báo Thanh tra điện tử với bài : Bất lực trước sai phạm, có câu kết: Khi chính quyền đã bị tê liệt, vai trò của tổ chức Đảng, của Bí thư Phan Nguyễn Như Khuê ở đâu?   tại
           Sinh thời Bác Hồ nói:  Đồng bào có oan ức mới khiếu nại hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại. Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm lo lắng đến quyền lợi của họ, do đó mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ càng được củng cố tốt hơn…”( Báo điện tử Viện Khoa học Thanh tra

           TW và Bộ Chính trị đang chỉ thị: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; ban  hành NQ Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Đây là dịp áp dụng các bài học và NQ của Đảng.

          Tôi mong được quý vị có  thư phản hồi đến tôi, cho biết ý kiến của quý vị về hướng xử lý vụ này như thế nào?

            Kính chúc sức khỏe và trân trọng kính chào quý vị. Tôi đặt niềm tin ở quý vị luôn xứng đáng là Người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước và luôn là người đầy tớ trung thành của nhân dân, đang ra sức xây dựng một Nhà nước pháp quyền.
            Trân trọng kính chào.
                                                                                            Kính thư                                                                                   
                                                                               
                                                                                 LS Nguyễn Thu Giang 
TB: Đôi lời tâm huyết:
Tôi có suy nghĩ:
– Đảng viên, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, vô cảm trước lời kêu oan thảm thiết của người dân … là suy thoái chính trị, đạo đức, lối sống… và không còn xứng  đáng là đảng viên.
-Những kẻ lợi dụng chức quyền, dẫm lên luật pháp để áp bức nhân dân là những kẻ phá hoại đảng và nhà nước, là giặc nội xâm. Những kẻ đó mới chính là kẻ thù của nhân dân, nhưng chúng khéo đội lốt “công vụ”, “lợi ích chung”… làm cho lãnh đạo không nhìn thấy…Thật – giả lẫn lộn…
-Tôi đã gửi  nhiều  thư ngỏ cho một số vị, thư này quý vị có hồi âm cho tôi thì rất tốt ( tôi cần và trân trọng điều đó). Còn không hồi âm cho tôi thì một lúc nào đó công luận cũng hiểu ra họ sẽ tiếp tục nhắc lại vụ này. Những người xem thư ngỏ của tôi đều ấm ức: Không tống đạt quyết định thu hồi đất mà cưỡng chế vì không chấp hành …là hành động giống quân phiệt thời suy tàn của chế độ vua chúa , không phù hợp trong thời đại dân chủ ngày nay. Quý vị không thể lặng thinh hoặc bao che mãi được đâu!
Đính kèm:
– QĐ 2666, QĐ 13,QĐ 46, QĐ533.
-4 Giấy báo phát 23/12/2009 – Trương Tấn Sang, 25/12/2009 – Nguyễn Minh Triết, 24/12/2009 – Huỳnh Thành Lập, 24/12/2009 – Nguyễn Thanh Chín.
– Giấy báo phát 23/11/2010 – Trần Văn Truyền 
-3 Giấy báo phát 01.11.2012:Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng
-Giấy báo phát 23/05/2013 – Nguyễn Phú Trọng

Lối ra nào có hậu cho vụ Ls Lê Quốc Quân – Phần I Đăng bởi: J.B Nguyễn Hữu Vinh | 14/07/2013


Lối ra nào có hậu cho vụ Ls Lê Quốc Quân – Phần I

Đăng bởi: J.B Nguyễn Hữu Vinh | 14/07/2013

Bắt bằng được – Đỏ như vang

hoantoa

Như vậy, cuối cùng thì Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội hoãn phiên xử Ls Lê Quốc Quân cái rụp chỉ mấy tiếng đồng hồ trước khi bắt đầu. Nhiều người thấy hẫng, vì công lao chuẩn bị mấy ngày để đi dự phiên tòa lại chưa thực hiện được, nhỡ một số việc. Một số bà con từ quê hương, từ Nghệ An, Hà Tĩnh và nhiều nơi khác đã đến Hà Nội âm thầm bằng nhiều cách, lại coi như làm chuyến đi thăm Thủ đô nhân dịp nông nhàn để lần sau có ra thì đã thông thạo đường sá. Một số nữa thì thở phào: Cũng may, đợt này chưa thu xếp được ra HN không thì nhỡ mất không đi dự tòa được, hẹn sẽ có mặt khi có lịch xử đàng hoàng. (Và hi vọng không bị… hoãn tiếp).

Có thể có người tin là bà thẩm phán Lê Thị Hợp bị cảm đột ngột hoặc đột quỵ là có thật. Tôi cũng tin có thể là như thế. Nhưng nếu vì chỉ một bà thẩm phán này đột quỵ mà phiên tòa công phu như vậy không thể xảy ra, thì tôi lại không tin.

Bởi nếu chỉ vì chuyện ruồi bâu vậy mà phải hoãn, thì chắc phải hoãn ngay từ quá trình điều tra phiên tòa khi cô Oông, em họ Ls Lê Quốc Quân bị bắt đi đột ngột khi đang mang thai. Đây là hành động vi phạm pháp luật và đạo đức nghiêm trọng. Và sau khi được thả ra, thì cái thai, niềm hi vọng của đôi vợ chồng trẻ cũng đã không thể tồn tại. Vậy mà vụ án vẫn tiếp tục như không hề có vấn đề gì. Thậm chí, phiên tòa này sẽ không thể có khi mà cơ quan điều tra vào điều tra Công ty Giải pháp Việt Nam sẽ nhận được thông tin là Cơ quan Thông tra Thuế đã dành hẳn một thời gian dài thông tra Công ty của Ls Lê Quốc Quân và cuối cùng thì không tìm ra điều gì khuất tất đã phải có quyết định đình chỉ cuộc thông tra. Rồi khi tiếp xúc với các hồ sơ, hợp đồng, hóa đơn… những chứng lý trong quá trình hoạt động được thể hiện bằng chữ ký sống, hóa đơn đàng hoàng, hợp đồng đầy đủ… thì hẳn các nhà thi hành luật pháp cũng hiểu rằng đưa thành một vụ án, dù là cái cớ cũng không phải dễ dàng để bóp nó theo khuôn khổ cái gọi là “luật pháp” trong Nhà nước pháp quyền.

Nhưng, vấn đề cuối cùng vẫn là ý chí thắng thực tiễn, nhất định phải có cớ nào đó để Lê Quốc Quân phải vào tù. Và phiên tòa đã được chuẩn bị sẵn sàng.

Một lần phải “làm việc” với một công an, anh ta hỏi tôi:

– Ông biết chúng tôi vừa bắt Lê Quốc Quân chứ”?

– Tôi biết và cả thế giới đều biết.

– Đấy, hôm nay ông không lên làm việc, chúng tôi sẽ có biện pháp, ông có tin không? Hôm nay chúng tôi sẽ làm việc với ông về vấn đề liên quan Lê Quốc Quân.

– Tin chứ. Tôi tin là các ông có thể vác súng xuống bắn chết tôi tại nhà. Nhưng tôi tưởng Lê Quốc Quân bị bắt vì trốn thuế thật. Hóa ra lại làm trò mèo này à?

– Không, bắn thì không. Nhưng chúng tôi có biện pháp.

– Ồ, bắt bớ thì có khó gì đâu, mọi người có trốn đi đâu đâu. Chúng tôi, tin các anh làm được mọi việc, kể cả làm lại một Thiên An môn. Nhưng đừng đem nó ra dọa.

anLqq
Đấy vụ Lê Quốc Quân được chuẩn bị kỹ càng, công phu là thế và đã hàng năm trời nay.

Người ta biết điều đó khi bỗng dưng Lê Quốc Quân bị đánh chí tử từ nơi gửi xe về nhà mà đến giờ lực lượng công an tài giỏi của ta không tài nào tìm ra thủ phạm dù Quân đã nhận mặt được một số đứa đánh ông. Thậm chí ông còn khẳng định là có bàn tay của chính quyền, trừ trường hợp cơ quan công an đưa ra được bằng chứng ngược lại. Thế mà chịu.

Người ta biết điều đó, khi cách đây hàng năm, hàng đoàn người bí mật, hoặc công khai theo dõi, bám sát Lê Quốc Quân.

Người ta cũng biết điều đó, khi mà công ty của Quân mỗi lần thuê nhà xong, lại bị buộc phải di chuyển hết lần này đến lần khác.

Và khi phiên tòa đã sẵn sàng, mọi thứ đã chuẩn bị thì lại bị hoãn vì một lý do rất… “trốn thuế”.

Công phu là thế, tốn kém là thế, kỹ càng là thế… vậy thì đâu phải chỉ vì một chiếc đinh ốc là cơn đau của bà thẩm phán lại dừng lại được cỗ máy đang vận hành hùng hổ?

Bắt xong rồi – Vàng như nghệ

Một buổi cầu nguyện cho Ls Lê Quốc Quân

Với Ls Lê Quốc Quân, bắt giữ ông ta không có gì là khó. Nhà nước Việt Nam thừa kinh nghiệm khi bắt giữ ông ta. Lần thứ nhất, ông bị bắt vì tội khủng khiếp là “Tổ chức lật đổ chính quyền nhân dân” – một tội tầy đình có thể mất mạng. Vậy nhưng, nhà nước đã thả ông rất đơn giản, chỉ vì “Lê Quốc Quân đã thành khẩn, xin được khoan hồng và có đơn trình bày”. Thật tuyệt vời. Có lẽ, đây là lý do hài hước nhất trong mọi khả năng hài hước có thể được sử dụng. Bởi với tội đó, chỉ cần đơn trình bày, thì tội như thế này, chỉ cần cười khẩy cũng được tha?

Lần thứ hai, ông bị bắt cũng chỉ vì nhà nước thấy… thích bắt. Người dân có đủ bằng chứng rằng ông không hề vi phạm pháp luật khi đi tham dự phiên tòa công khai. Và khi đó, lòng dân nổi giận. Hàng vạn người cất tiếng phẫn uất hàng vạn lời cầu nguyện được dâng lên… tất cả đứng bên ông, nguyện đồng hành với ông trong cơn khốn khó. Và nhà nước đã phải thả ông sau 10 ngày giam giữ.

Và lần này, ông lại bị bắt vì “trốn thuế”. Xem ra, cái lý do “trốn thuế” dễ nghe và dễ tin hơn là “tổ chức lật đổ chính quyền nhân dân” hoặc “gây rối trật tự công cộng”. Bởi ở Việt Nam, đã làm ăn, thì ai ai chẳng trốn thuế? Cơ quan, đơn vị nào chẳng trốn thuế… nó nhiều và nhan nhản đến mức ai cũng hiểu, chẳng người nào không hiểu. Để chứng minh điều này. Trên trang điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Phạm Sĩ Liêm, Chủ tịch Hội Xây dựng Việt Nam cho biết: “Tổng Hội Xây dựng Việt Nam đang nghiên cứu đánh giá toàn diện và có cơ sở khoa học, trước mắt cho rằng mức thất thoát trên dưới 10% là gần với thực tế”. Nhưng, có đốt đuốc tìm từ cơ quan cấp ngân sách đến cơ quan chi tiêu, có ai tìm ra được một đồng không có hóa đơn, chứng từ để chứng minh con số 10% của hàng trăm ngàn tỷ đồng kia bị xà xẻo, tham nhũng và ăn cắp. Nghĩa là hàng chục ngàn tỷ đồng gọi là thất thoát kia, đều là trốn, lậu hoặc giả mà không có một ai bị bắt, nếu ông vẫn làm, ăn, chia… đầy đủ. Do vậy, khi buộc cho cái tội trốn thuế, người dân dễ nghe, dễ tin và dễ thông cảm với… cơ quan điều tra hơn, vì đã có “lý do chính đáng”.

 Hinh Duc HY NV Thuan trong tu csThế nhưng, điều mà họ không ngờ, là khác với trước đây, ngay thời kỳ Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận phải đi tù đến 9 năm biệt giam, 4 năm quản chế mà không cần có án. Hàng loạt linh mục, tu sĩ, giáo dân, văn nghệ sĩ được ưu tiên cho đi tù mút mùa, thậm chí chết mất xác vẫn không cần án, chỉ cần một quan chức cộng sản thấy ghét mặt cũng có thể cho đi tù. Thì bây giờ đã khác.

Nhà nước đang ra sức hô hào “xây dựng nhà nước pháp quyền” để tránh đi cái nhãn hiệu thực tế không hề tốt đẹp mà họ không  muốn mang chút nào, đó là nhà nước độc tài cộng sản. Vì thế, nên cũng có luật, có các cơ quan và luật sư, tòa án… đủ cả.

Nhưng dù có đủ cả, thì cũng đều do đảng cộng sản lãnh đạo tuyệt đối.

Dù đảng có lãnh đạo tuyệt đối, thì người dân vẫn biết họ có quyền gì. Vì vậy, nhiều vấn đề rắc rối cho nhà nước trong vụ án này.

(Còn tiếp)


Ngày 12/7/2013

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Cộng đoàn Vinh tại Hà Nội hưởng ứng phong trào “Công lý cho Ls Lê Quốc Quân”, J.B Nguyễn Hữu Vinh


Cộng đoàn Vinh tại Hà Nội hưởng ứng phong trào “Công lý cho Ls Lê Quốc Quân”

Với Cộng đoàn Vinh tại Hà Nội, Ls Lê Quốc Quân vừa là thành viên, vừa là người anh tận tâm trong cộng đoàn từ khá lâu. Vì thế việc Ls Quân bị bắt bớ, giam cầm, thả ra rình rập và lại bắt bớ là việc họ không thấy ngạc nhiên. Những thông tin về vụ bắt bớ Ls Lê Quốc Quân và những hành xử của cơ quan an ninh, cơ quan công an thời gian qua đối với Ls Quân đã không làm cho các thành viên cộng đoàn hiểu rõ ràng rằng “Trốn thuế” chỉ là cái cớ để đưa anh vào vòng lao lý.

Lequocquan

Trong quá trình Ls Lê Quốc Quân bị bắt giữ đến nay, cộng đoàn đã chia sẻ, thăm hỏi và luôn bên cạnh gia đình nạn nhân. Nhận được thông tin về phiên tòa đối với Ls Lê Quốc Quân sẽ được đưa ra ngày 9/7/2013, các thành viên Cộng đoàn dành một sự quan tâm đặc biệt. Tối nay, 28/6/2013, Cộng đoàn Vinh tại Hà Nội đã dâng Thánh lễ cầu nguyện và thắp nến hưởng ứng phong trào “Công lý cho Ls Lê Quốc Quân”.
Dù đang là kỳ nghỉ hè của các sinh viên, nhưng nhóm Cựu sinh viên đã tập trung đông đủ tại nhà nguyện Giêrađô Giáo xứ Thái Hà, cùng dâng Thánh lễ với hai linh mục Gioan Lưu Ngọc Quỳnh là cha linh hướng và linh mục Phaolo Nguyễn Xuân Đường.
Tham dự Thánh lễ, ngoài Cộng đoàn Cựu sinh viên thuộc Cộng đoàn Vinh tại Hà Nội, anh chị em còn chào đón sự tham dự của gia đình, mẹ già, vợ con Ls Lê Quốc Quân và nhiều anh em, bạn bè ngoài công giáo đến tham dự.
Thánh lễ nghiêm trang, sốt mến và cháy ngời tình yêu thương, hiệp nhất. Thánh lễ hôm nay, cũng là ngày kính hai Thánh Phêrô và Phaolo Tông đồ. Bài giảng trong Thánh lễ, linh mục Phaolo Nguyễn Xuân Đường đã chỉ rõ: Như lời hỏi của Đức Giêsu với Thánh Phêrô “Con có yêu mến Thầy chăng?” giờ đây, Ls Lê Quốc Quân đang đối diện với câu hỏi khó khăn đó. Bởi yêu mến Đức Giêsu, nghĩa là yêu mến Sự thật và Công lý, yêu mến sự hi sinh”.
Gia đình Ls Lê Quốc Quân đến tham dự Thánh lễ và tri ân mọi người là tín hữu, anh em, bạn bè và những người quan tâm đối với anh và gia đình thời gian qua và xin được cùng hiệp thông trong thời gian tới.
Nhìn mẹ già và đàn con nhỏ của Ls Lê Quốc Quân, ngây thơ và trong sáng, thậm chí không biết rằng tai họa của bạo quyền đang gieo xuống đầu gia đình cách nặng nề ra sao, nhiều người đã không thể cầm nổi nước mắt.
Sau thánh lễ, tất cả đã thắp nến cầu nguyện cho Sự thật – Công lý – Hòa bình trong vụ việc của Ls Lê Quốc Quân, đồng thời cầu nguyện cho nhà cầm quyền biết hành xử minh bạch, sáng suốt, lấy mục đích phục vụ đất nước, nhân dân làm trọng để trả Ls Lê Quốc Quân trở lại với gia đình và cộng đoàn, xã hội.
Tất cả đang hướng về phiên tòa nhà cầm quyền đưa Ls Lê Quốc Quân ra xét xử tại TAND Thành Phố Hà Nội, 43, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Một số hình ảnh Thánh lễ tối nay:

 Caunguyen_cdv_Lqq-(2)
Caunguyen_cdv_Lqq-(3)
Caunguyen_cdv_Lqq-(4)
Caunguyen_cdv_Lqq-(5)
Caunguyen_cdv_Lqq-(6)
Caunguyen_cdv_Lqq-(7)
Caunguyen_cdv_Lqq-(8)
Caunguyen_cdv_Lqq-(9)
Caunguyen_cdv_Lqq-(10)
Caunguyen_cdv_Lqq-(11)
Caunguyen_cdv_Lqq-(12)
Caunguyen_cdv_Lqq-(14)
Caunguyen_cdv_Lqq-(15)
Caunguyen_cdv_Lqq-(16)
Caunguyen_cdv_Lqq-(17) Caunguyen_cdv_Lqq-(18)
Caunguyen_cdv_Lqq-(19) Caunguyen_cdv_Lqq-(20)
Caunguyen_cdv_Lqq-(21)
Caunguyen_cdv_Lqq-(22)
Caunguyen_cdv_Lqq-(23)

Hà Nội, 28/6/2013

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Phỏng Vấn Sử Gia Vũ Ngự Chiêu Về Những Nghiên Cứu Lịch Sử Liên Quan Đến Hồ Chí Minh (Thứ Sáu, 5 Tháng Mười Một-2010) (Xem: 102606) Tác giả : Nguyễn Vĩnh Châu VŨ NGỰ CHIÊU


Phỏng Vấn Sử Gia Vũ Ngự Chiêu Về Những Nghiên Cứu Lịch Sử Liên Quan Đến Hồ Chí Minh

(Thứ Sáu, 5 Tháng Mười Một-2010) (Xem: 102606)
LTS: Trước năm 1975, Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu là một sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, gốc Pháo Binh, từng phục vụ trong nhiều binh chủng, kể cả Nhảy Dù. Ngoài ra, Ông còn là một nhà văn với hơn 20 tác phẩm được ký dưới bút hiệu Nguyên Vũ. Sau khi tị nạn tại Hoa Kỳ, Ông trở lại trường học và hoàn tất văn bằng Tiến Sĩ Sử Học tại Ðại Học Wisconsin-Madison năm 1984. Về sau, Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu định cư tại Thành Phố Houston, TX và điều hành cơ sở Xuất Bản và Phát Hành Văn Hóa. Trong thời gian này, Ông đã cho xuất bản nhiều tác phẩm nghiên cứu sử học dưới bút hiệu Chính Ðạo hay tên thật Vũ Ngự Chiêu. Tại Houston, Ông cũng hoàn tất văn bằng Tiến Sĩ Luật tại Ðại Học Houston năm 1999. Với học bổng Fulbright, Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu đã đến Pháp (1982-1983, 1985-1986) và về Việt Nam (2004-2005) để nghiên cứu về những đề tài liên quan đến Sử học và Luật.
Trong Hợp Lưu 106, văn hữu Nguyễn Vĩnh Châu–cựu phóng viên đài VOA–đã thực hiện riêng cho tạp chí Hợp Lưu bài phỏng vấn đặc biệt Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu về Hồ Chí Minh (1892-1969), Chủ tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] (1945-1976). Những vấn đề được đưa ra cũng tương tự như buổi phỏng vấn dành cho nhóm thực hiện CD về HCM năm 2008 (mới phát hành gần đây), nhưng được đăng toàn vẹn, và hoàn toàn dựa trên tài liệu văn khố nhiều nước, như Pháp, Nga, Mỹ, Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc và Việt Nam.
Nhân dịp cuộc đàm phán Việt-Hoa về Hoàng Sa và Trường Sa đang khởi sự – mà theo chúng tôi Việt Nam nên từ chối ký bất cứ một văn kiện tay đôi nào với Bắc Kinh,và cương quyết đòi hỏi một hội nghị quốc tế do Liên Hiệp Quốc bảo trợ, để tránh ô danh đời đời trong lịch sử dân tộc như cha con Hồ Quí Ly, Mạc Ðăng Dung… xin trân trọng giới thiệu với quí độc giả thân quí những giải đáp thuần túy chuyên nghiệp về sử học của sử gia Vũ Ngự Chiêu.

TẠP CHÍ HỢP LƯU

Nguyễn Vĩnh Châu:
Thưa ông, theo tài liệu của CSVN thì ông Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của ông Hồ Chí Minh là một nhà ái quốc, đã từ quan vì chống đối triều đình. Sự kiện này có đúng không?

Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu:

Cha ông HCM là Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, gốc làng Sen (Kim Liên), huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An. (Sắc chỉ là tên gọi ngoài đời) Ðậu Phó Bảng năm 1901, ông Huy không theo học trường Hậu Bổ mà từng làm việc với Bùi Quang Chiêu, rồi bổ làm Thừa Biện Bộ Lại. Sau cuộc nổi dậy mùa Xuân 1908 của dân miền Trung, thăng bổ làm tri huyện Bình Khê (Bình Ðịnh).
Theo tài liệu Pháp, tháng 1/1910, Tri huyện Huy bị ngưng chức vì “nghiện rượu và tàn ác với dân chúng” (đánh chết một nông dân trong cơn say). Ngày 19/5/1910, bị chính thức tống giam vì tội danh trên. Qua tháng 8/1910, được miễn tội, chỉ bị cách chức.

Nguyễn Vĩnh Châu:

Theo sự nghiên cứu và những sử liệu mà ông có, xin ông vui lòng trình bày sự nghi vấn về tên thật và ngày sinh của ông Hồ Chí Minh.

TS Vũ Ngự Chiêu:

Theo tài liệu Pháp và Việt (như thư xác nhận Côn được nhận vào trường Quốc Học (Huế) ngày 8/7/1908, và bản án tử hình khiếm diện năm 1929 của tỉnh Vinh, bằng Hán ngữ pha chữ Nôm), tên thực Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Côn, với những bí danh như Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Xin (?),Nguyễn Ái Quốc, v.. v….
Một số tác giả trong nước tự động sửa thành Nguyễn Sinh Cung [chỉ dựa theo lập luận rằng vì anh là Khiêm].
Năm 1911, trong hai lá thư xin vào trường Ecole Colonale (Paris) viết từ Marseille, Nguyễn Sinh Côn tự xưng là Nguyễn Tất Thành. Trong những thư từ, từ 1912 tới 1914, còn có tên “Paul Thành.”
Từ năm 1919, đổi thành Nguyễn Ái Quấc hay Quốc. Theo học giả Nga Anatoli Sokolov, HCM có tất cả trên 150 bí danh khác nhau.
Ngày và năm sinh của HCM cũng có nhiều vấn đề.
Năm 1911, Nguyễn Tất Thành (HCM) tự khai sinh năm 1892.
Ngày 17/5/1945, báo chí VNDCCH công bố ngày sinh nhật 19/5/1890 của HCM và yêu cầu dân chúng treo cờ làm lễ mừng trong 3 ngày. (Cứu Quốc [Hà Nội], 17/5/1945).
Sử gia Huỳnh Kim Khánh cho rằng HCM chọn ngày này để ghi nhớ ngày thành lập Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh tức Mặt Trận Việt Minh (19/5/1941). Nếu thế, ngày 19/5 cũng có thể để kỷ niệm ngày 19/5/1910, khi cha HCM bị cầm tù, cách chức, khiến HCM phải rời trường Quốc Học ra đi, và khởi đầu sự nghiệp chính trị.
Có dư luận cho rằng HCM đã ngụy tạo ngày sinh 19/5/1890 để bắt dân chúng Hà Nội treo cờ đón tiếp Cao ủy d’Argenlieu sẽ đến thăm chính thức Hà Nội vào ngày hôm sau, 18/5/1945, để bàn thảo về chuyến đi Pháp sắp tới của Hồ. Ðồng thời, cũng để chứng tỏ sự yểm trợ của dân chúng với Hồ và chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến. Việc này có thể xảy ra, vì HCM là loại người sử dụng mọi phương tiện để đạt mục đích.

Nguyễn Vĩnh Châu:

Thưa ông, được biết, ông đã khám phá một sự kiện rất quan trọng là việc ông Hồ Chí Minh nộp đơn xin học trường thuộc địa của Pháp. Xin ông cho biết diễn tiến sự việc này ra sao và ảnh hưởng của công trình khám phá này như thế nào?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Ðầu tháng 2/1983, khi làm việc trên kho tài liệu trường Ecole coloniale, tức học hiệu huấn luyện các viên chức thuộc địa Pháp, trên đường Oudinot, quận 7, Paris, tôi vô tình khám phá ra nhiều hồ sơ học viên người Việt tại học hiệu này, như Bùi Quang Chiêu, Ðèo Văn Long, Phan Kế Toại, Trần Trọng Kim, Lê Văn Miễn, v.. v… tổng cộng khoảng 97 người (CAOM (Aix), Ecole Coloniale, cartons 27, 33 & Registers). Mục đích của tôi là tìm hiểu về những viên chức thuộc địa Pháp cùng thế hệ Tây học Việt Nam đầu tiên (ngoài những người tốt nghiệp các lớp huấn luyện ở các tu viện như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, v.. v…) để dùng cho chương Biến đổi văn hóa và xã hội của luận án Tiến sĩ. Thật vô tình, tìm thấy tập hồ sơ xin nhập học nhưng không được chấp nhận của Nguyễn Tất Thành, tức HCM sau này, cùng một người bồi khác được chủ Pháp mang về Paris. Ngoài hai lá thư viết tay gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Thuộc Ðịa, đề ngày 15/9/1911 tại Marseille, còn thêm ba tài liệu của Hội đồng quản trị trường. Trong biên khảo tam ngữ Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành (Paris: 1983) tôi đã trình bày khá rõ: Người mà chúng ta biết như HCM sau này đã rời nước không vì muốn tìm đường cứu nước, mà chỉ vì những tao ngộ bản thân (cha bị cách chức, tống giam, nên phải bỏ học nửa chừng, v.. v…). Từ cổng hậu đóng kín của trường Thuộc Ðịa, HCM sẽ tìm thấy cánh cửa mở rộng của Ðại Học Phương Ðông của Liên Sô Nga 12 năm sau.
Năm 1991, trong tập Vàng Trong Lửa, hai Giáo sư Trần Văn Giàu và Trần Bạch Ðằng đã nhắc đến tập sách nhỏ này, nhưng không nêu tên tác giả Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Thế Anh. Nên thêm rằng sử gia Nguyễn Thế Anh đồng ý viết chung với tôi tập sách trên, cũng như phổ biến các tài liệu trên tờ Ðường Mới, nhưng ông Anh không phải là người phát hiện những tài liệu trên. Ít tháng sau, khi tôi đang làm việc ở Aix-en Provence, Nguyễn Thế Anh cho tôi biết hai sử gia Pháp, tức Hémery và Brocheux, tuyên bố họ đã khám phá ra tài liệu này từ trước. Tôi chẳng mấy quan tâm. Vấn đề là tại sao Hémery và Brocheux không công bố các tài liệu trên trước chúng tôi (vào mùa Hè 1983)? Và những người làm phim truyền hình chiến tranh VN cũng sử dụng tài liệu trên.
Một số học giả Mỹ cho rằng khi công bố tư liệu trên, tôi đã có ý muốn discredit [hạ giá] HCM. Nhưng sự thực lịch sử chỉ là sự thực lịch sử. Ðáng trách chăng là thái độ thiếu nghiêm chỉnh và lương tâm nghề nghiệp của một số học giả (kể cả William A. Williams). Vì tư tâm hay một lý do nào đó, họ đã gạt bỏ những tư liệu đi ngược lại lập luận và diễn dịch [thiên tả] của họ. Ðiều này ảnh hưởng không ít đến công trình nghiên cứu của tôi. Tôi đã không nhận chỗ dạy học tại Ðại học Georgetown, Oat-shinh-tân, vì mất đi lòng trọng vọng một số trong những “học giả”.
Thật khó tin, nhưng có thực, là một số sách dùng dạy sử cho các lớp năm thứ nhất hay thứ hai đại học Mỹ vẫn còn ghi HCM đã rời nuớc năm 1912 để tìm đường cứu nước. Có người còn tuyên bố chẳng cần tìm hiểu thêm về HCM, dù tác phẩm của họ chứa đầy những lỗi lầm sơ đẳng về Ðảng CSVN. “As far as the Americans are concerned,” người ta nói, ngần ấy kiến thức về HCM đã quá đủ. “Life goes on!”

Nguyễn Vĩnh Châu:

Như ông biết, CSVN cho rằng HCM là nhà tư tưởng vĩ đại, lỗi lạc. Theo sự nghiên cứu của ông sự thật như thế nào?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Tôi nghĩ HCM là người của hành động hơn tư tưởng. Tư tưởng chỉ đạo của HCM chỉ là “luật kẻ yếu.” Một ấn bản mới của Câu Tiễn tân thời giữa thế kỷ XX. HCM rất lưu loát và rộng rãi trong việc ca tụng người có thể giúp đỡ mình, và không tiếc lời đả kích những đối thủ. Các nhà cung văn không tiếc lời ví HCM như thánh, thần, Phật, Chúa, v.. v… Nhưng đọc kỹ những gì Hồ đã viết hay tuyên bố, chỉ có 2 điểm đáng ghi nhận:
Thứ nhất, cho tới thuở trung niên, tức vào khoảng năm 1919-1920, Hồ vẫn tin tưởng ở nhân và dân quyền. Trong 8 điểm đệ trình cho Hội nghị Versailles mùa Hè 1919, HCM tỏ vẻ rất tin tưởng ở những quyền tự do cá nhân, như tự do hội họp, tư tưởng, báo chí, v.. v… Trong các thư từ gửi đi từ Hà Nội năm 1945-1946, Hồ vẫn ca ngợi nhân quyền cùng nguyên tắc cao cả của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, v… v… như ánh sáng chỉ đạo.
Thứ hai, từ năm 1922-1923, HCM bắt đầu nói về cách mạng, theo mẫu Marxist-Leninist. Hồ kêu gọi đoàn kết vô sản thế giới, lập liên minh công-nông chống lại liên minh tư bản thực dân-Ki-tô giáo. Tháng 10/1923, tại Ðại Hội Nông dân quốc tế, Hồ đã tố cáo thực dân và nhà Chung cấu kết với nhau để “câu rút giới nông dân nghèo khổ.”Khoảng ba năm sau, trong những bài giảng cho đoàn viên Việt Nam Thanh Niên Kách Mệnh Ðồng Chí Hội ở Canton (Quảng Châu), HCM hô hào phải làm Kách Mệnh. [Xem Ðường Kách Mệnh, in lại trong Văn Kiện Ðảng Toàn Tập [VKDTT], I:1924-1930, 2002:13-82]; David G. Marr, [On Trail, 1981:131n, 374-376] Theo Hồ, “Văn chương và hy vọng” trong tập sách gối đầu giường của cán bộ Thanh Niên chỉ ở trong hai chữ “kách mệnh, kách mệnh, kách mệnh.” [The literary value and hope of this book are confined in two words: Kach menh, Kach menh, Kach menh [“Revolution, Revolution, Revolution.”] Rồi Hồ trích dẫn Lenin: “Không kó lý luận kách mệnh, thì không kó kách mệnh vận động. . . Chỉ kó theo lý luận kách mệnh tiền fong, đảng kách mệnh mới làm nổi trách nhiệm kách mệnh tiền fong.”[ 25]
Trong 23 điều nói về tư cách người làm kách mệnh, 16 điều chẳng có liên hệ gì đến duy vật biện chứng. Không thấy nguyên tắc thực tập liên lũy [praxis] của Marx, tức ý muốn làm thử, rồi rút ra kinh nghiệm cho những hành động tương lai [that is the will to act in order to test belief and obtain the additional grounds for further action. (Marr, On Trail, 1981:378)]Hành động với HCM chỉ là thực hiện chủ thuyết Marxist-Leninist hơn là giải quyết những vấn đề theo công tâm “Muốn làm kách mệnh thì phải biết: Tư bản và đế quốc chủ nghĩa nó lấy văn hóa và tôn giáo làm cho dân ngu. Nó làm cho dân chúng nghe thấy cách mạng thì sợ rùng mình. Vậy kách mệnh trước hết phải làm cho dân “giác ngộ.” [23] Tóm lại, tư tưởng HCM chỉ có việc sao chép tư tưởng Lenin, Stalin và Mao Trạch Ðông. HCM thiên về hoạt động hơn tư tưởng.Việc cơ quan tuyên truyền CSVN đề cao tư tưởng HCM có lý do riêng. Nhưng ít khi thực sự vì chính Hồ. Mà vì những mục tiêu giai đoạn của người cầm quyền. Hãy lấy một thí dụ. Năm 1969, Lê Duẩn đã công bố ngày chết của HCM chậm 1 ngày (từ 2/9 tới 3/9), hay sửa lại, cắt xén di chúc của HCM. Một nguyện vọng nhỏ nhoi của HCM là được hỏa táng để phát động phong tục hỏa táng trong nước bị tảng lờ. Nói theo Brocheux, HCM đang bị “cầm tù” trong Lăng Ba Ðình. Thực ra, chẳng có dấu hiệu tôn trọng tư tưởng Hồ nào thiết thực hơn là giúp mang xác ướp của Hồ ra khỏi Lăng Ba Ðình, và hỏa táng.
Nguyễn Vĩnh Châu:
Ông có thể cho biết, lý do tại sao ngày nay đảng CSVN lại tung ra chiến dịch học tập đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Lãnh đạo CSVN có lý do riêng của họ, khó đoán biết. Nhưng một cách tổng quát, có thể nghĩ rằng tinh thần “hủ Marxist-Leninist” khiến cán bộ tuyên giáo đang muốn phỏng theo gương Trung Nam Hải bắt dân Trung Hoa “học tập” kinh nghiệm Hán hóa thuyết Marist-Leninism.” Người ta chỉ đổi đi năm chữ “tư tưởng Mao Trạch Ðông” bằng “tư tưởng Hồ Chí Minh.”
Nguyễn Vĩnh Châu:
Theo ông tại sao HCM lại có thể tự viết sách đề cao mình, tự gán cho mình là “Cha già dân tộc” vô cùng lố lăng như trong cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” với bút danh “Trần Dân Tiên”?

TS Vũ Ngự Chiêu:

HCM là một người hành động, một cán bộ cách mạng chuyên nghiệp [agitprop]. Việc HCM tự viết sách đề cao mình hay sai người ca tụng mình là việc phụ. Mục đích chính cần thực hiện là ca ngợi một nhân vật HCM chí thiện, chí thần, chí thánh. HCM rất ít khi quan tâm đến những khuôn thước giá trị tư bản, thực dân hay phong kiến mà HCM quyết tâm hủy diệt. Cũng nên thêm là “tư cách” hay “đạo đức” của người Cộng Sản, theo HCM, không giống quan điểm “phong kiến, thực dân”
[Tệ đoan cung văn này, dĩ nhiên, không do cơ quan tuyên giáo Cộng Sản độc quyền. Tại miền Nam, từng có huyền thoại về “điều trần” Nguyễn Trường Tộ, “nhà ngôn ngữ học” Trương Vĩnh Ký, hay “đầy vua không Khả, đào mả không Bài”–Khả, tức Ngô Ðình Khả, cha ruột Tổng thống Ngô Ðình Diệm (1897-1963), xuất thân thông ngôn cho Tây, tích cực trong việc đánh dẹp phong trào Cần vương do Phan Ðình Phùng lãnh đạo, và rồi được Pháp ủy thác giám hộ vua Thành Thái, với chức vụ Ðề đốc kinh thành. Bài là Nguyễn Hữu Bài, cha đỡ đầu Diệm, từng được Pháp cử làm Tổng lý triều Nguyễn từ 1925 tới 1932, trong thời gian ấu vương Bảo Ðại du học ở Pháp. Bàn tay Bài và quan lại Việt từng đẫm máu dân chúng miền Trung trong giai đoạn 1926-1932. Sau này, vào tháng 8/1944, Giám mục Ngô Ðình Thục viết thư cho Toàn Quyền Jean Decoux khoe kể công lao hãn mã của họ Ngô với Bảo hộ Pháp. Năm 1982, tôi nhờ Linh Mục Cao Văn Luận gửi một bản sao thư trên cho cựu Tổng Giám Mục Thục, yêu cầu cho biết ý kiến. Không thấy hồi âm; ít lâu sau nghe tin ông Thục đã chết vì điên loạn ở Mỹ.
Nhưng khi tôi cho công bố tài liệu trên năm 1989, có người cho rằng đó là “tài liệu giả”–hiểu theo nghĩa sau đó có người in trộm tài liệu trên từ báo Lên Ðường (Houston) vào sách họ, nhưng đã cố ý tẩy xóa một vài chi tiết trong thư.]
Nguyễn Vĩnh Châu:
Nhiều tác giả ngoại quốc vẫn nhận xét HCM là một người có tinh thần quốc gia, chỉ dùng chủ nghĩa CS để giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ. Theo sự tìm hiểu của ông thì sự thật như thế nào?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Tôi nghĩ cách diễn tả “tinh thần quốc gia” quá trừu tượng, chứng tỏ sự thiếu hiểu biết, đưa đến sự đánh giá sai lầm HCM. Trên cơ bản, HCM là người nuôi tham tâm giành đoạt chính quyền bằng mọi giá và giữ vững độc quyền cai trị. Cũng cần lưu ý là HCM, theo tôi, không là một cán bộ Cộng Sản thuần thành.
Liên hệ giữa Hồ và Quốc Tế Cộng Sản có nhiều vấn đề.
Từ năm 1932, Nguyễn Ái Quốc đã bị QTCS khai tử.
Từ 1933-1938: NAQ phải sống với bí danh mới “Lin” hay “Linov,” không được giao công tác gì. Năm 1935, chỉ được Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập cho 1 ghế dự khuyết trong Ban Trung Ương Chấp Ủy, lo việc phiên dịch các tài liệu của Ðảng CSVN gửi Phòng Ðông Dương của QTCS. Năm 1938, vội vã rời Mat-scơ-va sang Diên An (Trung Hoa) để tránh bị Stalin thanh trừng. Nên chẳng có gì ngạc nhiên khi từ năm 1943-1944, HCM đã tìm cách móc nối cơ quan tình báo Mỹ. Từ sau chiến dịch Meigo của Nhật–tức cuộc bắt giữ hầu như toàn bộ chính phủ bảo hộ Pháp tại Ðông Dương trong hai ngày 9-10/3/1945–HCM bắt đầu chính thức hợp tác với Phi Ðoàn Cọp Bay 14 của Chennault tại Vân Nam. Và rồi, cơ quan OSS [Tình báo chiến lược] Mỹ từ tháng 3 đến tháng 8/1945 (Frank Tan, thuộc GBT, và rồi Deer Team, OSS, ở Kim Lộng, Tuyên Quang). Sau ngày 19/8/1945, viên chức Mỹ đóng vai đường giây ngoại giao của HCM, giúp chính phủ Hồ tồn tại qua cuộc chiếm đóng của Trung Hoa, và phần nào giúp Hồ thành lập chính phủ liên hiệp với Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội, tổ chức bầu cử Quốc Hội, chính thống hóa chế độ VNDCCH hầu ký Tạm ước 6/3/1946 tại Hà Nội, và rồi Modus vivendi ngày 14/9/1946 tại Paris.
Nói cách khác, yếu tố ngoại cường thống trị và ảnh hưởng sự thăng tiến của HCM. Chiêu bài “quốc gia”–HCM tự nhận nhiều lần chỉ thuộc Ðảng Quốc Gia, và từng giải tán Ðảng CSÐD ngày 11/11/1945–chỉ quan trọng trong nội địa Việt Nam.
Nguyễn Vĩnh Châu:
Theo sự nghiên cứu của ông thì ông HCM có trách nhiệm gì trong việc đảng CSVN sát hại các đảng viên những đoàn thể quốc gia trong thời gian những năm 45-46?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Dù có trực tiếp cho lệnh hay không, HCM phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Mặc dù Võ Giáp cùng Bộ Nội Vụ ra tay tàn sát các đảng phái chống Cộng khi HCM đang ở Pháp, HCM được báo cáo tuờng tận chi tiết những vụ án ngụy tạo xét xử cán bộ Việt Quốc, hay cuộc tàn sát VNQDÐ tại Hà Nội với lý do “bắt tay Pháp làm đảo chính nhân dịp Quốc Khánh 14/7 của Pháp.” Dĩ nhiên, nên lưu ý rằng, năm 1945-1946, HCM chưa hoàn toàn kiểm soát được guồng máy chính quyền. Trong nội bộ Ðảng, HCM cũng không hoàn toàn kiểm soát được phe cực đoan như Trường Chinh Ðặng Xuân Khu và Hạ Bá Cang (Cung?), tức Hoàng Quốc Việt, v.. v… Ðó là chưa kể tinh thần địa phương Nam-Trung-Bắc. Nhưng những lời tuyên bố của HCM tại phiên họp kỳ II của Quốc Hội, từ 28/10 tới 9/11/1946, chứng tỏ HCM phê chuẩn việc làm của Giáp cũng như công an Việt Minh.
Nguyễn Vĩnh Châu:
Là một nhà sử học, ông nghĩ gì về lập luận cho rằng dù ông HCM có nhiều lỗi lầm nhưng vẫn có công giải phóng VN khỏi ách thực dân?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Với những tài liệu đã giải mật (tháng 11/2008), không ai phủ nhận được tài năng của HCM trong việc lãnh đạo Ðảng CSVN tới chiến thắng cuối cùng của Ðảng này. Nhưng cách diễn tả “giải phóng VN khỏi ách thực dân” cần xét lại.Sau Thế Chiến Thứ Hai, phong trào giải thực–hiểu theo nghĩa thực dân Trung Cổ–xuất hiện ngay trong tâm ý dân chúng các cường quốc thuộc địa. Thực dân Pháp bị thất bại ở Việt Nam cơ bản là do quốc dân Pháp và Việt đều muốn chấm dứt nó. Thế giới cũng chuyển biến sang một hình thức “trật tự mới”–tức vùng ảnh hưởng của các siêu cường–đặc biệt là Liên Sô Nga và Liên Bang Mỹ, hai “siêu cường” lãnh đạo hai khối vô sản và tư bản. Sự nghiệp chính trị của HCM cho tới khoảng năm 1968-1969 phải được đánh giá trong hệ thống chính trị thế giơi chiến tranh lạnh “lưỡng cực” này. Và, rồi sự chia rẽ giữa Bắc Kinh và Mat-scơ-va từ năm 1958, dẫn tới chính sách hòa hoãn đa cực (bao gồm thế tay ba Mỹ-Nga-Trung Cộng tại Ðông Nam Á).
Nên ghi nhớ là ngay đến Ngô Ðình Diệm, năm 1954-1955, cũng khua chiêng, gõ trống cho thành tích “bài phong, đả thực”–nhờ phép lạ Mỹ.
Trường hợp HCM và Ðảng CSVN, thoát khỏi “ách thực dân Trung Cổ Pháp” để bị trói buộc vào “ách thực dân mới Hán Cộng.” Khó thể gọi là “giải phóng VN khỏi ách thực dân.”
Nguyễn Vĩnh Châu:
Theo ông thì trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất, ông Hồ Chí Minh có trách nhiệm gì không ?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Trước khi nói đến trách nhiệm của HCM hay Ðảng CSVN, cần tìm hiểu rõ ràng về vai trò cải cách ruộng đât trong các xã hội nông nghiệp, rồi đến trường hợp cá biệt Việt Nam.
A. Cải cách ruộng đất [CCRÐ]–tức làm sao có sự phân phối ruộng đất hợp lý để nông dân có đất cày cấy–là điều quan tâm hàng đầu của những nhà cai trị các xã hội nông nghiệp muốn dân giàu, nước mạnh.
Trong Ðường Kách Mệnh, HCM từng viết:2. Tây đồn điền choán ruộng cách nào?
Nhiều cách.
Phần thì Tây đồn điền cướp, phần thì các nhà thờ đạo chiếm. Các cố đạo chờ năm nào mất mùa, đem tiền cho dân cày vay. Chúng nó bắt dân đem văn khế ruộng cầm cho nó và ăn lời thật nặng. Vì lời nặng quá, đến mùa sau không trả nổi, thì các cố xiết ruộng ấy đem làm ruộng nhà thờ.”[ 73]
3. Chính phủ Pháp đãi dân cày An Nam thế nào?
Tư bản Tây và nhà thờ đã choán gần hết đất ruộng, còn giữ được miếng nào thì chính phủ lại đánh thuế thật nặng, mỗi năm mỗi tăng.[ 73] 10 phần lấy mất một.[ p.73]
Mua rẻ nhân dịp dân phải đóng thuế; xuất cảng. Nó chở đi chừng nào, thì dân ta chết đói nhiều chừng ấy.
4. Bây giờ nên làm thế nào? phải tổ chức nhau để kiếm đường giải phóng.[ 74]
5. Cách tổ chức dân cày thế nào?[ 74] Bất kỳ tiểu điền chủ trở xuống đều được vào; (trừ đại địa chủ, mật thám, cố đạo, say mê rượu chè, cờ bạc và a phiến)[74]
Nông hội chống rượu chè, a-phiến khiến mất giống nòi.
Biết kách mệnh tinh thần, kách mệnh kinh tế, thì kách mệnh chính trị cũng không xa.Từ đầu thập niên 1930, cải cách ruộng đất, hay cách mạng thổ địa, là một chiêu bài của Ðảng Cộng Sản Ðông Dương. Những khẩu hiệu như “Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận ngọn” được nêu ra từ cuộc nổi dạy 1930-1931 tại Nghệ-Tĩnh và Nam Kỳ, và thống trị các tài liệu tuyên truyền của Ðảng CSÐD cho tới năm 1935-1936. Lý luận Marxist-Leninist phía sau chiêu bài sắt máu này là cuộc đấu tranh giai cấp giữa liên minh nông-công chống lại và tiêu diệt giai tầng địa chủ phong kiến, nhằm thủ tiêu hệ thống sản xuất cổ truyền, tiến tới việc xây dựng một xã hội công bằng mà ai nấy đều được hưởng tương ứng với những gì mình sản xuất, trên đường tiến đến xã hội Cộng Sản, ở đó ai nấy đều làm theo khả năng, được hưởng theo nhu cầu.
Vì mục tiêu cuối cùng–tức xã hội cộng sản, nơi nhà nước bị thăng hoa, chỉ có những người lao động sản xuất tự quản lý công hữu–chưa đủ điều kiện chào đời, Ðảng Cộng Sản và liên minh công-nông tiếp tục duy trì nhà nước chuyên chính vô sản, hay “dân chủ tập trung,” thẳng tay tiêu diệt giai cấp địa chủ phong kiến, lấy đất chia cho người nghèo, để họ tự làm chủ. Những nhà tiểu tư sản mới này sẽ giúp tăng gia sản xuất lương thực, tạo nên thặng dư để góp vốn vào việc công nghệ hóa nền kinh tế. Sự phát triển đồng thuận và song hành này sẽ giúp đất nước sớm hiện đại hóa, nâng cao đời sống công nông, phát triển nền văn hóa lành mạnh.

B. Ðấu tranh Giảm Tức, Giảm Tô:

Từ năm 1945, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] đã bắt đầu phát động chính sách đòi hỏi giảm tô (tức giảm tiền thuê ruộng đất) và giảm tức (giảm tiền vay lãi), nhưng có nơi thi hành, nơi không. Một trong những lý do chính là giai đoạn 1945-1946 còn có những nhu cầu và khó khăn, phức tạp cần giải quyết, liên hệ đến chính sự sinh tồn của chế độ.
Từ đầu năm 1947 tới năm 1949, chính sách nông thôn của Hồ chưa có thay đổi đáng kể, ngoại trừ những biện pháp tận thu, giảm chi, trên nguyên tắc “chớ nên mị dân.” Tuy nhiên, chiến thắng của Mao Trạch Ðông ở Hoa lục (1949) và sự thành hình của “giải pháp Bảo Ðại” (1948-1949) khiến Hồ chẳng còn lựa chọn nào khác hơn trở lại với khối tân Quốc tế Cộng Sản (Cominform), do Liên Sô Nga lãnh đạo. Bên cạnh những chuẩn bị tái lập Ðảng Cộng Sản Ðông Dương (dưới tên mới Ðảng Lao Ðộng Việt Nam từ năm 1949-1951), và do nhu cầu tăng gia thu nhập cũng như củng cố sự yểm trợ của giới nông dân (bần cố nông và bần nông), từ đầu năm 1949, BTV/TW Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mã Khắc Tư ra Chỉ thị ngày 3/1/1949 cho các Khu ủy về sách lược vận động tranh đấu bắt các địa chủ giảm tô 25% như chính phủ qui định. Mục tiêu lần này được mở rộng tới các địa chủ “công giáo, và chỉ thị trên còn qui định việc giảm tiền xin lễ, nhưng tránh không chạm đến tín ngưỡng.” (VKÐTT, 10, 2001:176-177)
Ðầu tháng 6/1949, BTV/TW lại gửi điện ngày 1/6/1949 cho Liên khu [LK] IV về phong trào khuyến khích địa chủ hiến đất. (VKÐTT, 10, 2001:241) Ngày 14/7/1949, HCM ký Sắc Lệnh Giảm Tô. Ngày 14/10/1949, BTV/TW ra chỉ thị tạm cấp ruộng đất của Việt Gian cho người nghèo. (VKÐTT, 10, 2001:299-303) Ngày 22/10/1949, BTV/TW chỉ thị LK IV vận động giảm tô 25%. (VKÐTT, 10, 2001:307-308)
Ngày 18/11/1949, BTV/TW ra Thông tri về việc chấn chỉnh tổ chức nông dân: Khéo léo đưa địa chủ ra khỏi Hội Nông Dân Cứu Quốc bằng cách tổ chức vào những hội khác (Phụ lão, Liên Việt) Thành phần BCH HNDCQ phải có bần cố nông, có người trẻ. Không nên có phú nông; nếu có chỉ để làm vì. Ra sức tổ chức Hội nông dân trong vùng Công Giáo. [Lê Văn Lương]. (VKÐTT, 10, 2001:314-315)
Ngày 5/7/1950,Trường Chinh đọc báo cáo về chính sách nông thôn tại phiên họp mở rộng của Ban Kinh tế TW [5 tới 7/7/1950]. (VKÐTT, 11, 2001:591- 626) Ngày 17/7/1950: Ban Thường vụ TW chỉ thị “hoàn thành giảm tô, thực hiện giảm tức.”
Tại Ðại hội tái lập Ðảng CS [Lao Ðộng] vào tháng 2/1951, Tổng Bí thư Trường Chinh nhấn mạnh là CCRÐ chỉ nhắm vào giảm tô, giảm tức. Ðịa chủ hiến đất đai. Kháng chiến thắng lợi sẽ CCRÐ. [Ngày 16/4/1951 Hồ Viết Thắng được cử làm trưởng Tiểu ban Nông vận (còn có Trương Việt Hùng, Nguyễn Hữu Thái, Trần Ðức Thịnh, Ca, Nông, Di, Ðào). (VKÐTT, 12, 2001:526- 527)]
Ngày 22/4/1952, Hội nghị TW lần thứ ba của ÐLÐVN [22 tới 28/4/1952] vẫn còn ra nghị quyết: “Trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh.” (VKÐTT, 13, 2001:65- 75) Về chính sách ruộng đất sẽ tập trung vào giảm tô, giảm tức, lôi kéo địa chủ; tịch thu ruộng đất của Pháp và Việt gian cho dân cày nghèo. Chưa thủ tiêu bóc lột phong kiến. ( VKÐTT)13, 2001:118- 128).

C. Chính thức phát động CCRÐ:

Năm 1952, Mao Trạch Ðông mời Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh, ép phải cải cách ruộng đất. Ðồng thời thực hiện chỉnh quân, chỉnh huấn. (Hoan, 1987:359-367). Ngày 15/8/1952, Ban Bí thư [BBT] Ðảng LÐVN ra chỉ thị bổ sung chỉ thị 37 về chính sách ruộng đất: Từ nay “Dựa vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ vơí trung nông, liên minh với phú nông, lôi kéo hoặc trung lập một số địa chủ, đánh đuổi đế quốc và đại địa chủ phong kiến phản động.” (VKÐTT, 13, 2001:239) Ngày 25/11/1952, BBT ra thông tri về việc điều tra nông thôn. (VKÐTT, 13, 2001:347- 360)
Ðầu năm 1953, Trung Cộng cử Kiều Hiểu Quang, Phó Bí thư Quảng Tây, phụ trách đoàn cố vấn cải cách ruộng đất. (Theo Hoàng Tùng, La Quí Ba cũng ép Hồ phải đấu tố Nguyễn Thị Năm, tức Cát Thành [Hanh] Long. “Mấy ngàn người bị xử tử.” (Tài liệu truyền tay ký tên Hoàng Tùng. Hoàng Tùng phục vụ trong Ban Tuyên huấn của Trường Chinh, nên có những thông tin đặc biệt. Theo tài liệu đã dẫn, HCM rất bất mãn về áp lực của Bắc Kinh, nhưng không dám chống đối. Xem thêm infra.)
16/4/1951: Nghị quyết ngày 16/4/1951 của BCH/TW về việc thành lập các ban và tiểu ban giúp việc:Ban Tuyên huấn: Trường Chinh, Phạm Tô, Tố Hữu, Trần Quang Huy, Hoàng Tùng, Xuân Thủy, Lê Quang Ðạo, Nguyễn Chương, Nguyễn Khánh Toàn, Minh Tranh.
Ban Mặt Trận: Hoàng Quốc Việt, Thoại Sơn, Hồ Viết Thắng, Xuân Thủy, Trần Cung, Lê Thành Lập, Dương Bạch Mai.
Ban Kinh tế-Tài chính: Phạm Tô, Cù Vân, Trần Ðăng Ninh, Hồ Viết Thắng, Lê Văn Hiến, Ðặng Việt Châu, Bùi Công Trừng, Nguyễn Văn Tạo, Trần Danh Tuyên, Nguyễn Ðức Thụ.Tiểu ban Nông vận: Hồ Viết Thắng, Trương Việt Hùng, Nguyễn Hữu Thái, Trần Ðức Thịnh, Ca, Nông, Di, Ðào. (VKÐTT, 12, 2001:526- 527)
Cũng có nhân chứng cho rằng cuối tháng 3/1950, khi từ Bắc Kinh trở lại Tuyên Quang, Hồ tuyên bố với Ban Thường vụ Trung ương Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư (tức Ðảng CSÐD, đã được bí mật tái khai sinh từ năm 1948-1949) là Stalin muốn làm cách mạng thổ địa, và Hồ muốn làm cách mạng thổ địa với sự tiếp tay của TC. (Võ Nguyên Giáp, CÐTVV, 2001:349-350) Một tài liệu TC ghi ngày 5/3/1953, khi cùng HCM [dưỡng bệnh ở TH] rời Bắc Kinh về VN, Vi Quốc Thanh được HCM kể lại những chi tiết về chuyến qua Mat-scơ-va cuối năm 1952, và ý định thực hiện CMTÐ, theo lệnh Stalin. “Không thể đứng giữa một ngọn đòn sóc. (Vu Hóa Thẩm [Vương Chấn Hoa], “Vi Quốc Thanh,” (Vu Hóa Thẩm, LQB, 2008:59)

D. Hội nghị kỳ 4 Ðảng LÐVN (25-30/1/1953):

Theo tài liệu chính thức của Ðảng Cộng Sản Việt Nam, Hội nghị lần thứ tư Trung ương Ðảng LÐVN (25-30/1/1953) đã quyết định tiến hành cải cách ruộng đất, tức phong trào đấu tố (rập khuôn Trung Cộng).
Ngày 25/1/1953, HCM đọc báo cáo về tình hình trước mắt và nhiệm vụ CCRÐ. Triệt để giảm tô, tiến tới CCRÐ. Theo Hồ, từ 1945, đã thực hiện giảm tô, nhưng tới nay chưa đúng mức: có nơi giảm, nơi chưa giảm. Nay phải triệt để thực hiện giảm tô. Phải phát động quần chúng nông dân tự giác tự nguyện đứng ra đấu tranh triệt để giảm tô giảm tức và giành lấy ưu thế chính trị ở nông thôn. Ðảng và chính phủ phải lãnh đạo, tổ chức, giúp đỡ, kiểm tra. Sau đó sẽ cải cách ruộng đất. Nông dân là nền tảng của vấn đề dân tộc, và cũng là nền tảng của cách mạng dân chủ chống phong kiến, chống đế quốc. Muốn kháng chiến thắng lợi phải nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, chia ruộng đất cho nông dân. CCRÐ sẽ giúp Ðảng LÐ Việt Nam giải quyết nhiều vấn đề:
Về quân sự: Nông dân hăng hái tham gia bộ đội; đồng thời làm tan rã ngụy quân.
Về kinh tế-tài chính: nông dân đủ ăn đủ mặc, sẽ giúp phát triển công thương nghiệp, hăng hái đóng thuế nông nghiệp.
Về chính trị: Nông dân nắm ưu thế trong làng xã, “nhân dân dân chủ chuyên chính sẽ được thực hiện rộng khắp và chắc chắn.”
Về văn hóa: “có thực mới vực được đạo.” Nông dân no đủ sẽ phát triển văn hóa.
Những vấn đề như thương binh, công an nhân dân dễ giải quyết.
Về Mặt Trận Liên Việt: Nông dân sẽ chiếm đa số, cơ sở công nông liên minh vững chắc hơn.
Ðấu tranh triệt để giảm tô giảm tức làm đà cho CCRÐ.
E. Hồ nêu lên kinh nghiệm CCRÐ ở Trung Hoa:
Tới cuối năm 1952, đã hoàn thành CCRÐ, chia đất cho nông dân. Hơn 500,000,000 nông dân được chia hơn 700 triệu mẫu ruộng. Nông dân giữ lại được hơn 30 triệu tấn thóc địa tô. Hăng hái tăng gia sản xuất: Năm 1950 lương thực tăng 20% so với năm 1949; năm 1952 tăng 40%. Thành phần xã hội thay đổi rất nhiều: trung nông tăng từ 20% tới 80%; bần nông giảm từ 70% xuống còn 10-20%. Về chính trị, chỉ tại bốn khu Hoa Trung, Trung Nam, Tây Nam và Tây Bắc nông hội đã có hơn 88 triệu hội viên, trong đó hơn 30% là phụ nữ; 60% đến 80% nông dân tổ chức thành những đội đổi công, hợp tác xã. Nông dân trở thành trụ cột của chính quyền ở nông thôn; nhân dân dân chủ chuyên chính và công nông liên minh trở nên vững chắc. Công nghệ và thương nghiệp mau phát triển; văn hóa cũng lên vùn vụt. Hơn 49 triệu trẻ em nông dân được đi học. Vì trình độ giác ngộ lên cao, phong trào chống tham ô lãng phí, quan liêu và chống Mỹ, giúp Triều nông dân hăng hái tham gia. (HCMTT, 7:1953-1955, 1996:8-9.
Thực ra HCM không hoặc không muốn nói đến thực trạng sắt máu của bài học CCRÐ Trung Hoa. Từ ngày 1/10/1949 tới cuối tháng 8/1951, có tới 28,000 bị hành quyết tại Quảng Ðông. Trong nửa năm đầu 1951, khoảng 800,000 phiên tòa xét xử phản cách mạng, và 135,000 người bị tử hình. Từ 1949 tới 1952, khoảng 2 triệu người bị hành quyết. Hơn 2 triệu người khác bị gửi vào các trại cải tạo. ( Maurice Meisner, Mao’s China, 1977:81).
Năm 1952, Mao và Ðảng CSTH đã khiến giai cấp đại địa chủ ngừng hiện hữu, nhưng cả Mao lẫn Hồ, đều hiểu rằng CCRÐ chưa phải là cách mạng XHCN. Theo lý luận Marxist-Leninism, đây mới chỉ là giai đoạn “tư sản” [bourgeoisie] của cách mạng, hay cái gọi là “Tân Dân Chủ” của Mao. Nói theo Marx, “chế độ Bonaparte [Pháp] là triều đại của nông dân.”
Mục tiêu chính của Mao chỉ là: mở rộng cơ sở ủng hộ; kiểm soát hành chính xuống các xã thôn; làm gia tăng mức sản xuất nông phẩm. Bài diễn văn ngày 14/6/1950 của Liu Shaoqi [Lưu Thiếu Kỳ] hầu như đã được phỏng dịch lại trong bản báo cáo của HCM: thực hiện CCRÐ từng bước với sự thận trọng và biệt phân, trong khi lượng sản xuất nông phẩm gia tăng; phải dựa vào bần và cố nông, liên minh với trung nông, và vô hiệu hóa phú nôngHồ cũng không nhắc gì đến những con sóng bạo lực và sự phẫn nộ của 20 triệu người Hoa bị “vạch thành phần” là địa chủ, sự chống đối của họ [107- 108]. Bi thảm hơn nữa là dù CCRÐ đã hoàn tất, tình trạng nghèo khổ của nông dân TH không thay đổi. Chỉ có Ðảng CSTH đại thắng khi thay thế những kỳ hào cũ của các thôn xã bằng những người trẻ trung hơn, giúp đẩy mạnh việc trung ương tập quyền cho Ðảng và Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc. Ðồng thời chuẩn bị cho bước tái tổ chức kế tiếp, tức tập trung sản xuất [collectivation].Trường Chinh báo cáo về mục đích, ý nghĩa, phương châm, phương pháp và kế hoạch thực hiện CCRÐ. (VKÐTT, 14:30- 83.
Ngày 30/1/1953, ra Nghị Quyết “Thẳng tay phát động triệt để giảm tô.” (VKÐTT, 14:128- 132)
F. Ngày 5/2/1953, Trường Chinh ra chỉ thị về cách phổ biến Nghị Quyết của Hội nghị lần thứ tư BCHTW (khóa II): chỉ phổ biến CCRÐ tới cấp khu ủy và đại đoàn ủy, nhưng tạm thời giữ bí mật thời điểm thực hiện. Cấp tỉnh ủy và trung đoàn ủy chỉ nói giảm tô, tiến tới CCRÐ. Cấp dưới, không nói đến CCRÐ, chỉ nói đến 5 công tác trong năm 1953. (VKÐTT, 14:136-137).
Trong khi đó, Hồ liên tục xuất hiện phát động các kế hoạch rập khuôn Trung Cộng khác: Ngày 5/2/1953, HCM nói chuyện trước Hội nghị nông vận và dân vận toàn quốc. Hôm sau, 6/2/1953, HCM nói chuyện trước lớp chỉnh huấn cán bộ Ðảng, Dân, Chính ở cơ quan TW. Hồ nhắc nhủ các cán bộ: “Ngồi giữa hai ghế thì nhất định sẽ ngã.”
Ngày 22/4/1953, Ban Bí thư ra chỉ thị v/v 10 điều kỷ luật của cán bộ khi thi hành CCRÐ. Ngày 24/4/1953, Ban CHTW ra Chỉ thị v/v phát động quần chúng trong năm 1953.
Chỉ thị của BCT ngày 4/5/1953 v/v Mấy vấn đề đặc biệt trong phát động quần chúng trong năm 1953 phản ảnh khía cạnh sắt máu của kế hoạch CCRÐ:
Trừng trị địa chủ phản động và gian ác
Mức thoái tô, dây dưa tiền công
Tước vũ khí của địa chủ [vụ đồn điền Vũ Ngọc Hoành]
Yêu cầu về trình độ tổ chức trong cuộc phát động quần chúng
Chỉ thị số 43/CT/TW của BCT ngày 10/6/1953 v/v Hướng dẫn công tác phát động quần chúng. (VKÐTT, 14:223- 234. Theo tin quân sự Pháp, thời gian này tại miền Bắc, Pháp chỉ kiểm soát được 1,129 làng (trên tổng số 7,000 làng). (10H 282).
Phản ứng của dân chúng, và nhất là cán bộ cực kỳ xúc động. Ngày 29/6/1953, Thông Tri của Ban Bí thư về vấn đề tuyên truyền phát động quần chúng. ghi nhận “Ngay đến một số cán bộ lãnh đạo chưa thấm nhuần đường lối của CP. Nhiều nơi, địa chủ và ngay cả phú nông, trung nông tự tử.”( VKÐTT, 14: [tr. 246])
Ngày 3/7/1953, để trả lời những thắc mắc như “có CCRÐ trong kháng chiến hay không?,” BCT khẳng định Hội nghị TW lần thứ 4 (1/1953) đã quyết định CCRÐ trong kháng chiến.

G. Luật CCRÐ 19/12/1953:

Trung tuần tháng 11/1953, tại Hội nghị lần thứ 5 BCH/TW Ðảng LÐVN và Hội nghị Toàn quốc lần thứ nhất Ðảng LÐVN (14-23/11/1953), kế hoạch CCRÐ được chính thức công bố. Bước kế tiếp chỉ còn là việc của Quốc Hội. Ngày Thứ Ba, 1/12/1953, Quốc Hội VNDCCH họp khóa thứ ba [tới 4/12/1953]. HCM tham dự. Ðọc báo cáo về tình hình thế giới, kháng chiến và CCRÐ.
Trên mặt trận tuyên truyền, người ta chỉ được giải thích là lấy ruộng đất của “địa chủ phong kiến, Việt Gian ác ôn” chia cho người nghèo, với khẩu hiệu người cày có ruộng. Trên thực tế, để tiêu diệt cái gọi là chế độ sản xuất phong kiến, chính phủ Hồ áp dụng “công lý bần nông,” tức các phiên tòa đấu tố, bắt ép những người bị qui [vạch] vào thành phần địa chủ, cường hào, ác ôn hay Việt Gian phải nhận cả những tội lỗi họ chưa bao giờ vi phạm; rồi sau đó xử tử hình, hạ tầng công tác hay tập trung cải tạo.
Ðợt thí nghiệm ở Thái Nguyên (dân số 10,781 người) từ tháng 12/1953 tới tháng 3/1954. Tịch thu, trưng thu, trưng mua 2,609 mẫu cho 6,089 nông dân. (VKÐTT, 15:1954, p. 201).
Số nạn nhân của kế sách CCRÐ được ước lượng từ 15,000 tới 50,000 người. (Catton, 2002; Brocheux, 2003:225).
Cần nhấn mạnh, mục tiêu chiến lược của CCRÐ vào thời gian này: bên cạnh quyết tâm “tiêu hủy giai cấp địa chủ phong kiến,” nhắm mở rộng sự kiểm soát các làng xã, tiêu diệt khả năng chống đối của địa chủ, gia tăng thu nhập lương thực và thuế, gia tăng số người nhập ngũ và “dân công” phục vụ nhu cầu chiến trường (lên tới hơn 100,000 trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ). Mãi tới sau đợt cải cách ruộng đất thứ 5 vào mùa Xuân-Hè 1956–trong không khí chống đối, bất mãn khắp nơi, kể cả biến cố nông dân Quỳnh Lưu nổi dạy, Võ Giáp phải mang quân lính đến đánh dẹp–Hồ mới họp Hội nghị TWÐ lần thứ 10 (khóa II, 8-10/1956), nhìn nhận khuyết điểm, tự chỉ trích và phê bình; rồi tự mình thay Trường Chinh làm Tổng Bí thư, và trừng phạt chiếu lệ những cán bộ điều khiển chính sách cải cách ruộng đất. (TTLTQG 3 (Hà Nội) có một số tư liệu của Kho Quốc Hội đã giải mật. Bộ Văn Kiện Ðảng Toàn Tập cũng in lại khá đầy đủ những nghị quyết và chỉ thị cơ bản về chính sách CCRÐ của Ðảng Cộng Sản từ năm 1949 tới 1957. Xem, Chính Ðạo, “Mặt Trận Nông Thôn: Từ Cải Cách Ruộng Ðất tới Ấp Chiến Lược;” Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, tập II (Houston: Văn Hóa, đang in).
HCM đã chịu áp lực của Bắc Kinh để thực hiện việc cướp đoạt tập thể tài sản dân chúng này. nhưng qui trách cho sai lầm của Trường Chinh, không phải do các cố vấn TQ. (Hoan, 1987:366-367)
Kết luận sơ khởi của chúng tôi là cuộc cách mạng thổ địa vừa từ trên xuống (theo nghĩa do đảng LÐVN lãnh đạo, phát động, tổ chức và kiểm soát) vừa từ dưới lên (bạo lực tự phát của giới nông dân nghèo khổ, ao ước được chia đều phương tiện sản xuất, kể cả đất đai) chỉ mới thành công về chính trị và quân sự hơn kinh tế và xã hội hay văn hóa.
Nguyễn Vĩnh Châu:
Trong vụ án “Nhân Văn-Giai Phẩm”, ông Hồ Chí Minh có trách nhiệm gì không?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm là hậu quả đương nhiên của quyết định độc quyền cai trị bằng họng súng của Ðảng CSVN. Là Chủ tịch Ðảng và Nhà Nước, HCM chịu trách nhiệm. Riêng với HCM, đó còn là sự phản bội chính những đòi hỏi thuở trung niên của Hồ.
Nguyễn Vĩnh Châu:
Còn về vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế, ông Hồ Chí Minh có chịu trách nhiệm gì không ?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Thời điểm này, HCM hầu như không còn thực quyền. Lê Duẩn-Lê Ðức Thọ đã nắm hết quyền lực. Vấn đề đặt ra là liệu những viên chức địa phương đã vượt qua chỉ thị vào tháng 1/1968 của Lê Duẩn? (Phá cho tan hậu cứ VNCH, tức các đô thị).
Nguyễn Vĩnh Châu:
Hiện tại, nhiều đồng bào trong nước cũng như hải ngoại rất quan tâm và bất bình về vấn đề mất đất, mất các quần đảo do Trung Cộng chiếm đoạt. Vậy, theo ông thì ông Hồ Chí Minh có trách nhiệm gì không?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Dĩ nhiên là có. HCM là người cầm đầu Ðảng và Nhà Nuớc. Thư ngày 14/9/1958 của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai–tự nguyện nhìn nhận biên giới do Trung Cộng tự vẽ, với những dấu chấm ở vùng lãnh hải phía Nam–phải được sự phê chuẩn của HCM và Bộ Chính Trị Ðảng Lao Ðộng Việt Nam như Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Hoan, Lê Ðức Thọ, v.. v…
Bắc Kinh và Hà Nội thường nói về tình “môi hở, răng lạnh,” hay “viện trợ không kèm móc câu hay thòng lọng.” Thực tế, việc cắt đất cắt biển là những lưỡi câu và thòng lọng mà dân tộc Việt đang và sẽ chịu đựng.
Nguyễn Vĩnh Châu:
Qua những điều đã trình bày thì theo ông, Hồ Chí Minh đã để lại di sản gì cho Dân Tộc Việt Nam?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Một di sản buồn.
Ba mươi năm chiến tranh, hàng triệu người chết và thương tật, sự tàn phá của làng mạc, ruộng vườn, đất đai. Và mối hận thù khó nguôi của các giai tầng xã hội.
Một tương lai, mù sương, trong cuộc hành trình vô định, đầy thử thách từ một xã hội nông nghiệp, nửa thực dân nửa phong kiến đã chết, tới một thể chế chưa đủ khả năng chào đời.
Từ năm 1991 bắt đầu nhập cảng thứ lý thuyết Marxist bị Hán hóa từ phương Bắc, và thay thế bảng hiệu “tư tưởng Mao Trạch Ðông, lý luận Ðặng Tiểu Bình” bằng “tư tưởng Hồ Chí Minh.”
Nguyễn Vĩnh Châu:
Nói tóm lại, theo ông thì Hồ Chí Minh có công hay có tội đối với dân tộc Việt Nam?

TS Vũ Ngự Chiêu:

Có lẽ còn quá sớm để đánh giá HCM.
Vấn đề tùy thuộc ở những gì những người kế vị HCM sẽ thực hiện trong tương lai.
Houston, 1/2009
Nguyễn Vĩnh Châu

Rights groups take aim at Vietnam’s new internet laws By Peter Shadbolt, CNN updated 5:44 AM EDT, Mon September 2, 2013


Rights groups take aim at Vietnam’s new internet laws

By Peter Shadbolt, CNN
updated 5:44 AM EDT, Mon September 2, 2013
Rights groups say new Internet laws are aimed at clamping down on dissent in the one-party Communist state
Rights groups say new Internet laws are aimed at clamping down on dissent in the one-party Communist state

STORY HIGHLIGHTS
  • Controversial law prevents Vietnamese law prevents internet users from sharing news articles
  • Rights groups say decree is designed to clamp down on dissent in the one-party communist state
  • Vietnamese government defends law saying that it is aimed at protecting intellectual property
  • Rights groups say as many as 35 bloggers and netizens are in jail in Vietnam on anti-state charges

(CNN) — A controversial law to prevent Vietnamese internet users from sharing news articles drew criticism on Tuesday from human rights groups which said the decree is designed to clamp down on dissent in the one-party Communist state.

Known as Decree 72, the new law which came into effect on September 1 not only limits blogs and social websites to exchanging ‘personal information’ – original material generated by users – but requires foreign internet companies to locate their local servers inside Vietnam.
While the Vietnamese government has defended the law saying that it is aimed at stemming the illegal dissemination of intellectual property, critics say the law — which also bans the online publication of material that ‘harms national security’ – is further evidence of Hanoi’s crackdown on the Internet.
Reporters Without Borders says as many as 35 bloggers and netizens are currently jailed in Vietnam on anti-state charges, some of them serving sentences as long as 13 years.
“This is Vietnam vaulting to the head of the crowd on internet censorship in South East Asia,” Phil Robertson from Human Rights Watch told CNN.

Vietnam’s answer to Google: Coc Coc

Dogs slaughtered for meat in Vietnam
“The fact that it will effectively criminalise the sharing of information and the sharing of links by requiring that online social media only include originally written material is really quite a jump.”
He said it was clear the government was being heavily criticized by its citizens on the Internet.
“This is a case of the empire strikes back,” he said, adding that while the government was unlikely to monitor every Facebook page it had lists of known activists who would likely come under increased scrutiny.
Vietnam’s head of the Department of Radio, TV and Electronic Information, Hoang Vinh Bao, told Vietnam’s state media last month the decree would not limit freedom of the press or the voices of social media users and would only clamp down on those who ‘undermined national unity’.
An article published last month in the official Nhan Dan newspaper defended the laws saying they were aimed at those who use social media to “defame the prestige and honor of others” and “incite hostility to the government.”
“The government is desperate to make it appear that this is not aimed primarily at dissidents which is why they’ve rolled out various excuses including the protection of intellectual property,” Robertson said.
The decree comes at a time when Vietnam is facing unprecedented growth in the internet, with 34% of the country’s 90 million people connected to the web.
Unlike China, which has placed social networking sites such as Facebook and YouTube outside the Great Firewall of China as it is popularly known, analysts say Vietnam is playing catch up with its crackdown.
“The Internet in terms of the Vietnamese language has really become a super highway of information sharing,” Robertson told CNN. “It also goes to the literary traditions of Vietnam — it’s a very learned society.
The government is desperate to make it appear that this is not aimed primarily at dissidents
Phil Robertson
“People who are authors and writers are respected and that has translated to the online bloggers some of whom have immense followings.”
The U.S. Embassy in Hanoi also weighed into the debate over Decree 72 last month saying: “Fundamental freedoms apply online just as they do offline.”
It added that the internet law ‘appears to be inconsistent with Vietnam’s obligations under the International Covenant on Civil and Political Rights, as well as its commitments under the Universal Declaration of Human Rights.
While Vietnam has been escalating its pressure on dissidents it has also been attempting to improve its image on human rights. Earlier this year, it opened a dialogue with Amnesty International, allowing the human rights group to meet with dissidents and government officials in the first such meeting since the end of the Vietnam War.
Vietnam has been drafting a constitution that seeks to address civil liberties and issues of religious tolerance and comes as the South East Asian country is in negotiations to craft a free trade zone under the U.S.-led Trans Pacific Partnership.
Vietnamese President Truong Tan Sang visited the White House in July, holding talks with President Barack Obama which broached issues of Vietnam’s human rights record.
“We had a very candid conversation about both the progress that Vietnam is making and the challenges that remain,” President Obama said at the conclusion of the talks.

Khi “Chủ tịch” Trương Tấn Sang đi Mỹ viết bởi Vũ Đức Toàn


Khi “Chủ tịch” Trương Tấn Sang đi Mỹ
 
Vũ Đức Toàn
 
 
Trong thời gian gần đây, trước khi “lãnh tụ” Việt cộng Trương Tấn Sang đi Mỹ, đã có rất nhiều đồn đoán về chuyến đi của tên “lãnh tụ” Cộng sản này. Có người thì “tiên tri” rằng, sẽ có những thay đổi tốt, vì Cộng sản Việt Nam ló mòi “theo Mỹ”. Còn có kẻ lại viết thư cho Tổng thống Mỹ, trong số đó phải kể hai “người tù lương tâm”:   Thích Quảng Độ và Nguyễn Đan Quế, là to mồm hơn cả, vì với mục đích để cho “cả thế giới” biết mặt biết mày, rằng thì là ta đây là “lãnh tụ” nổi tiếng, đang chầu chực và sẽ giựt giải Nobel Hòa Bình nay mai.
 
Ngoài hai “ngài lãnh tụ” này, còn có nhiều người, là thân nhân của những “người tù lương tâm”, trong đó có gia đình của “khai quốc công thần – con dòng cháu giống cách mạng” Cù Huy Hà Vũ, cũng nhân cơ hội này đã viết thư gửi cho Tổng thống Mỹ để nhờ đến “uy quyền” của Tổng thống Mỹ mà bảo “đàn em” Việt cộng “trả tự do” cho thân thân của họ.
 
Bốn cái chữ “người tù lương tâm” này, là do Võ văn Ái đã đẻ ra, rồi sau đó, người ta lại bắt chước viết và nói theo. Thế nhưng, người ta đã không biết rằng: Những người đã và đang ở tù, cũng chỉ có hai loại tội phạm, đó là: Tù chính trị và tù hình sự, chứ làm gì có cái gọi là “tù lương tâm”. Bởi thế, nếu đem cái “tội danh” này mà trình tâu với “đức vua” Obama, thì “ngài” cũng không biết đây là cái tội gì cả.
 
Và như vậy, thì làm sao Ban chấm giải Nobel Hòa Bình biết đâu mà chấm cho hai “người tù lương tâm” Thích Quảng Độ và Nguyễn Đan Quế, là hai kẻ đã từng có những thành tích nổi tiếng chống Mỹ, xuống đường, biểu tình, hô hào quyết liệt chống cả hai nền Cộng Hòa Việt Nam, đòi Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam, và ủng hộ “Mặt trận Giải phóng miền Mam” trong suốt thời gian đất nước Việt Nam Cộng Hòa đã bị đảng Cộng sản, là đảng cầm quyền của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhận lệnh Cộng sản quốc tế, xua quân xâm lăng.
 
Hai kẻ này: Thích Quảng Độ và Nguyễn Đan Quế, đúng thực như con người đã nhận diện và đặt tên: Loài nhổ ra rồi liếm lại, là thuộc hạng người vô liêm sỉ.
 
Riêng với những người đã và đang luôn nghĩ rằng, chính phủ Mỹ sẽ xem trọng nhân quyền, nên mới viết thư cho Tổng thống Mỹ. Những người này, thật đáng tội nghiệp, vì họ có đầu, mà không có khối óc. Vì nếu có chút suy nghĩ, thì họ phải biết rằng:
 
Trước khi gặp một “lãnh tụ” của bất cứ một nước nào trên thế giới, thì tất cả các nước Âu-Mỹ. Nhưng đặc biệt nhất là nước Mỹ đều có những “cuộc thương lượng –  thỏa thuận ngầm”, để rồi đến khi gặp mặt, là mọi sự sẽ diễn ra đúng như thế, còn chuyện “nhân quyền”, chỉ là cách nói xã giao, bóng bẩy cho tiện việc trả giá khi thương lượng, vì họ đặt quyền lợi của nước Mỹ lên trên hết.
 
Về phía đảng Cộng sản Việt nam, thì phải nhắc lại những lời tuyên bố chính xác của HT Thích Quảng Độ, khi nói đến sự hợp tác giữa “khối Ấn Quang” và đảng Cộng sản Hà Nội như sau:
 
“Hợp tác đôi bên cùng có lợi. Ông lợi cái này, tôi lợi cái kia, cũng như buôn bán, mình cùng làm”.
 
“Khối Ấn Quang và đảng Cộng sản, đã biết “Hợp tác đôi bên cùng có lợi…”, thì nước Mỹ và Việt Nam Cộng sản, cả hai cũng biết “Hợp tác đôi bên cùng có lợi” vậy. Dễ hiểu quá mà, sao nhiều người còn mơ ngủ, không chịu tỉnh thức, để nhớ lại cuộc Hải chiến giữa Hải quân Việt Nam Cộng Hòa với bọn giặc Tầu vào tháng giêng, năm 1974. Lúc ấy, “đồng minh” Mỹ đã tỉnh queo, thản nhiên thấy những “người bạn đồng minh” chết mà không cứu!
 
Người ta mau quên quá, nên không nhớ, khi “đồng minh” Mỹ bắt tay với giặc Tầu, thì đất nước Việt Nam phải mất từ Ải Nam Quan, thác Bản Giốc. Và sau đó, “thủ tướng” Việt cộng Phạm Văn Đồng, theo chỉ thị của “chủ tịch” Hồ Chí Minh, mà viết và ký một văn bản, gửi cho Chu Ân Lai, để xin dâng bán cả hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa !
 
Và sau đó, khi “đồng minh đi đêm” với bọn giặc Tầu, thì  đã đẻ ra cái Hiệp định Paris, 1973, để họ chia nhau cái giải Nobel Hòa Bình, cùng nhau nhảy múa, reo vui trên những xác xết của Dân, Quân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa, khi đẩy được cả nước Việt Nam Cộng Hòa rơi xuống tận cùng của vực thẳm!
 
Các người vọng ngoại có thấy chăng: Những chiếc ống chân của đồng bào vô tội đã gãy rời, nằm rơi lại trên con đường chạy trốn Cộng sản vào những ngày trước 30/4/1975!
 
Các người có nhớ chăng, bao nhiêu đồng bào, phụ nữ trẻ em, đã bỏ mình trong lòng biển khơi, hay trên những con đường rừng, vì vượt biên, vượt biển, để tìm tự do!
 
Các người có biết chăng, các vị Quân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa đã bị hành hạ, đày đọa đến tàn phế, hoặc đã chết một cách đau đớn ở các trại tù trá hình “tập trung cải tạo” !
 
Các người có biết chăng, những đồng bào, em thơ, mẹ già phải chết vì đói khát, lạnh lẽo ở những “Vùng kinh tế mới”!
 
Tất cả những máu xương, những nước mắt đã từng loang chảy ấy, đều do bàn tay nhuộm đầy máu của đảng Cộng sản Việt Nam; trong số đó, đứng đầu là Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Phạm Văn Đồng… có cả Cù Huy Cận, Tố Hữu… Nhưng đặc biệt nhất, tại miền Nam  – Việt Nam Cộng Hòa là sự hiện hữu của lũ Giặc Ấn Quang, và những tên Giặc  khác như Lê Văn Hảo, Ls Nguyễn Hữu Thọ, Bs Phùng Văn Cung… cùng với những tên Giặc “phản chiến” như Nguyễn Đan Quế, Đoàn Viết Hoạt, Huỳnh Tấn Mẫm, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Hữu Thái…
 
Một lần nữa, trước khi tạm kết thúc bài này, chúng tôi phải nhắc lại cho tất những kẻ vọng ngoại, ngây ngô đến độ khờ dại rằng:
 
Trước khi tiếp xúc những “lãnh tụ” các nước khác, dù Cộng sản, hay không cộng sản; và dù là Tây hay Mỹ, thì tất cả đều đã có những “thỏa thuận” ngầm rồi, nên khi công khai gặp mặt, chỉ là lúc hợp thứ hóa cho những “điều khoản” đã được thỏa thuận “Đôi bên cùng có lợi”. Còn chuyện “nhân quyền” chỉ là một trong những “thủ đoạn” để thúc đẩy cho quyền lợi, mà hiện nay, Hải cảng Đà Nẵng là nơi đã hai lần, từng “đón tiếp” cả hai đoàn quan viễn chinh của Pháp và của Mỹ. Bên cạnh đó, là Hải cảng Cam Ranh, là của ngõ quốc tế, mà nhiều nước đều dòm ngó, muốn sở hữu. Tuyệt đối, tất cả không bao giờ vì quyền lợi của đất nước và đồng bào Việt Nam. Còn đảng Cộng sản Việt Nam, thì duy nhất, chỉ vì quyền lợi của đảng Cộng sản, mà Cam Ranh và Đà Nẵng là hai Hải cảng, để cho đảng Cộng sản Việt Nam đem ra mặc cả, mà không biết chừng, rồi cả hai Hải cảng này, cũng sẽ mất, vì không có việc gì mà đảng Cộng sản Việt Nam không dám làm cả.
 
Chính vì những lẽ ấy, xin đừng hỏi: Trương Tấn Sang đi Mỹ để làm gì. Vì khi những tên cầm đầu của băng đảng cướp, mỗi lần chúng đi đâu, thì đều tìm cách để ăn cướp. Còn đảng Cộng sản Việt Nam, là một đảng bán nước, buôn dân, thì mỗi khi những “lãnh tụ” của đảng CS đi tới đâu, thì tất nhiên, là để tìm cách để bán thêm lãnh hải, lãnh thổ, buôn thêm sức lao động cũng như thân xác của người dân Việt, để chúng cùng chia nhau, bỏ vào cái túi tham không đáy, để sống trên xương máu và sự đau thương, nghèo đói của những người dân cùng khốn !
 
Đừng vọng ngoại, vì ngoại nhân không bao giờ nghĩ đến đất nước và người dân Việt. Và Đừng mơ đến chuyện đảng Cộng sản Việt Nam sẽ thay đổi, sẽ “tôn trọng nhân quyền”. Vì tự do, dân chủ, nhân quyền sẽ không có cơ hội xuất hiện, khi đảng Cộng sản còn cai trị trên đất nước Việt Nam.
 
24/7/2013
Vũ Đức Toàn

Lê Hiếu Đăng, cán bộ cộng sản giả dạng chiến sĩ dân chủ !


Lê Hiếu Đằng: “Tôi hạnh phúc …”.
 
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
 
 
Theo trang Web BBC Việt ngữ: “Tin và bài mới nhất. Cập nhật: 15:40 GMT – thứ tư, 21 tháng 8, 2013, đã đăng những lời của Lê Hiếu Đằng như sau:
“Luật sư Lê Hiếu Đằng tin rằng một đảng mới sẽ là đối trọng tốt cho đảng CS
Dư luận đang quan tâm lời kêu gọi thành lập một đảng mới, Đảng Dân chủ Xã hội, do nhóm của luật gia Lê Hiếu Đằng, một đảng viên cộng sản lâu năm, khởi xướng.
Ông Đằng nguyên là Phó Tổng thư ký Uỷ ban Trung Ương Liên Minh các Lực lượng Dân tộc Dân Chủ và Hoà Bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM”.
 
Thực ra, không cần Lê Hiếu Đằng phải kể ra những “thành tích cách mạng”. nghĩa là những thành tích hoạt động Cộng sản của Lê Hiếu Đằng, kể từ lúc còn ngồi ở dưới mái trường Trung học Phan Châu Trinh, Đà Nẵng, vì suốt trong những năm tháng ấy, Lê Hiếu Đằng đã từng là “học sinh Phật tử quyết tử”, từng sát cánh với những tên học sinh, sinh viên Cộng sản ở Quảng Nam-Đà Nẵng như  Nguyễn Đăng Trừng, Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Ngọc Chênh… tất cả đã đi theo “HT” Thích Đôn Hậu, “Chánh đại diện Phật Giáo miền Vạn Hạnh” (tức miền Trung), trong các cuộc “đấu tranh” tại thành phố Đà Nẵng cho tới khi ngồi vào cái ghế Phó Tổng thư ký Uỷ ban Trung Ương Liên Minh các Lực lượng Dân tộc Dân Chủ và Hoà Bình Việt Nam – Trung ương Mặt trận Tổ quốc…”
 
Chính vì thế, mới có những kẻ đã và đang ra sức tung hô, ủng hộ Lê Hiếu Đằng cùng đồng bọn, và chụp cái mũ “Việt cộng” cho những người lên tiếng lột trần bộ mặt thật Cộng sản của Lê Hiếu Đằng;  bởi tất cả đều sợ người ta vạch mặt chỉ tên của bọn chúng đã một thời hoạt động cho Cộng sản, từng ra tay giết hại dân lành, và vì những kẻ đó, đã một thời đứng trong hàng ngũ của “Ủy ban Trung ương Liên Minh các Dân tộc Dân Chủ và Hòa Bình VN – Ủy ban nhân dân cách mạng Sài Gòn – Gia Định…”
 
Vậy, nhân đây, người viết xin nêu lên một số hoạt động Cộng sản của Lê Hiếu Đằng, đã một thời sát cánh với những bộ mặt Cộng sản ở một trong những tổ chức do chính Cộng sản Bắc Việt đã đẻ ra trước năm 1975 như sau:
“Ủy Ban Trung ương Liên Minh các Lực lượng Dân tộc Dân Chủ và Hoà Bình Việt Nam.
Chủ tịch:         Luật sư Trịnh Đình Thảo
Phó Chủ tịch: Hòa thượng Thích Đôn Hậu
Tổng Thư ký: Tôn Thất Dương Kỵ
Các Phó tổng Thư ký: Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa – Sinh viên Lê Hiếu Đằng –  Nhà văn Thanh Nghị, tức Hoàng Trọng Quỵ (Quỳ,chồng cũ của ca sĩ Tâm Vấn, sau đó, Tâm Vấn là vợ của Nguyễn Đan Quế).
Các Ủy viên Thường trực: Giáo sư Nguyễn Văn Kiết – Chuyên viên Huỳnh Văn Nghị – Nhà báo Trần Triệu Luật.”
 
Đó là chưa kể đến “công lao” của Lê Hiếu Đằng suốt trong thời kỳ từng nằm trong cái “Ủy Ban Nhân dân cách mạng Sài Gòn-Gia Định”. Đây chính là một “Ủy ban” luôn song hành với “Lực lượng Biệt động Sài Gòn – Gia Định”, mà thực chất là một tổ đặc công dưới sự chỉ huy của tướng Việt cộng Trần Hải Phụng, như những lời kể của “HT” Thích Trí Dũng qua cuốn “sách Người dựng chùa Một Cột tại miền Nam”  như sau:
 
“Năm 1964, tại Chùa Một Cột (Nam Thiên Nhất Trụ) Thủ Đức qua trung gian là anh Bùi Kỳ Vân, anh Nguyễn Đức Lộc là  Chính trị viên đội Biệt động Thủ Đức, tôi gặp anh Nguyễn Văn Bá, ông Nguyễn Văn Thăng hiện đều là anh hùng Quân đội Nhân dân Việt Nam và đều ở Đội Biệt động Sài Gòn-Gia Định ngày ấy. Họ đã nhờ tôi tạo điều kiện cho Lực lượng Biệt động Sài Gòn-Gia Định thuộc Lữ đoàn 316 xây dựng cơ sở bí mật tại Chùa Một Cột và Chùa Phổ Quang ở gần sân bay Tân Sơn Nhất-là hai ngôi chùa do tôi kiến tạo và trụ trì. Tôi đồng ý, thế là hai ngôi chùa này trở thành hai cơ sở hoạt động bí mật của Biệt động Sài Gòn-Gia Định cho đến ngày 30-4-1975.
 
Trong cuộc Tổng công kích Mậu Thân 1968, Chùa Phổ Quang là điểm khai hỏa đánh sân bay Tân Sơn Nhất; ở đây tôi đã qua mắt địch, để che giấu một số lượng lớn vũ khí và Lực lượng Biệt động Sài Gòn-Gia Định thuộc Lữ đoàn 316.  Chùa Phổ Quang cũng là nơi ở của Thiếu tướng Trần Hải Phụng và anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Bá, chùa thường xuyên bị địch để ý. Để che mắt địch, chúng tôi đã cạy nắp mồ Ngô Đình Cẩn em ruột Ngô Đình Diệm, chôn trong chùa Phổ Quang để giấu vũ khí. Chính vì vậy, địch không ngờ tới. Còn sự di chuyển của các chiến sĩ Lực lượng Biệt động thì đích thân tôi đã lái xe hơi chở họ nên địch không thể ngờ được. Vì thế, vũ khí và con người được giữ gìn cho đến giờ chót”.
 
Những lời kể lại của “HT” Thích Trí Dũng như ở trên, thì Lê Hiếu Đằng đã từng nằm trong  “Lực lượng Biệt động Sài Gòn – Gia Định” của Việt cộng, chỉ chuyên môn đi đặt mìn, ném chất nổ vào những nơi đông dân cư, nhà thương, trường học, các khu phố chợ, để khủng bố và giết chết đồng bào, trẻ em vô tội. Và dưới đây, là danh sách của tổ chức ấy:
Ủy ban Nhân dân cách mạng Khu Sài Gòn-Gia Định:
Chủ tịch        : Giáo sư Nguyễn Văn Chì
Phó Chủ tịch: Dược sĩ Phạm Thị Yên, Chuyên viên Huỳnh Văn Nghị
Tổng thư ký : Lê Hiếu Đằng
Các Ủy viên : Nhà văn Vân Trang – Kỹ sư Nguyễn Hữu Khương”.
 
Và cũng trong bản tin của BBC: “Trò chuyện với ông Lê Hiếu Đằng…”, thì khi nghe, hay đọc những lời này của Lê Hiếu Đằng, nếu là những người Việt Nam yêu nước thật sự, không chấp nhận đảng Cộng sản, và có bộ óc bình thường, thì chắc chắn phải hiểu được Lê Hiếu Đằng một cách chính xác qua những lời nói của chính Lê Hiếu Đằng đã xác định rằng:
“Cái chữ đối lập đây không có nghĩa là mình bài bác gì đảng Cộng sản – bản thân tôi là đảng viên đảng Cộng sản lâu năm – và chính điều đó giúp cho đảng một lối thoát”.
 
Điều ấy, có nghĩa là, Lê Hiếu Đằng lập ra cái đảng “Dân Chủ Xã Hội mới”, chỉ để “giúp cho đảng một lối thoát”. “Lối thoát” đó, là để vẽ ra một “chế độ đa đảng-đa nguyên” trước thế giới, để không bị các quốc gia dân chủ, tự do phê phán là “độc đảng, độc tài”  cũng như để cho người dân không thể đấu tranh chống cộng nữa, vì “đã có đa đảng-đa nguyên” rồi. Nhưng nói tóm lại, nghĩa là, như câu “khẩu hiệu” của đảng Cộng sản Hà Nội: “Chính sách của đảng và nhà nước trước sau như một”, để rồi đảng Cộng sản vẫn tiếp tục thống trị toàn dân, còn cái đảng “Dân Chủ xã Hội mới” do Lê Hiếu Đằng khởi xướng, chỉ là một thứ “đảng” giống như những tổ chức, mà đảng Cộng sản đã từng đẻ ra như : “Mặt trận Giải phóng miền Nam – Liên Minh các Lực lượng Dân tộc Dân Chủ và Hoà Bình Việt Nam – Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam…”. Còn bây giờ, là “Đảng Dân Chủ Xã Hội mới”.
 
Và trong bài: “Những điều nói rõ thêm”, Lê Hiếu Đằng đã viết:
“Về bản dự thảo lần thứ tư này, 40 vị nhân sĩ trí thức đã ra tuyên bố phê phán thẳng thừng, không còn nói một cách tế nhị như trong đề nghị 7 điểm, mà nói thẳng phải bỏ điều 4 Hiến pháp, phải thực hiện chủ trương đa nguyên đa đảng”.
 
Như vậy, nói gì thì nói, nhưng cuối cùng, Lê Hiếu Đằng cũng như những kẻ khác, là chỉ có yêu cầu đảng Cộng sản “bỏ điều 4 Hiến pháp” năm 1992.
 
Nhưng xin mọi người cần phải biết: Trước năm 1992, khi chưa có cái “Điều 4 Hiến pháp”, thì có gì khác hơn. Xin trả lời ngay là CÓ.
 
Những cái có đó là: “Cải cách ruộng đất – Nhân Văn Giai Phẩm -Thảm sát Mậu Thân, 1968 – “Tập trung học tập cải tạo” tức là bỏ tù và giết chết các vị Dân-Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa sau 30/4/1975, cướp nhà cửa tài sản và đày ải người dân của nước Việt Nam Cộng Hòa đến những nơi rừng thiêng nước độc, đánh “tư sản mại bản” – lừa người Việt gốc Hoa đóng góp bằng những số vàng to lớn, để “ra đi bán chính thức” ; nhưng khi những con tàu của họ vừa tách bến, thì đã bị nổ tung, tất cả đều chết tan xác, vì những chất nổ đã được gài sẵn trên các tàu thuyền… Chính vì những lẽ ấy, nên khiến cho vô số người đã phải bỏ nước ra đi bằng nhiều cách. Vì thế, đã có rất nhiều nạn nhân, trong đó, có các thiếu nữ trẻ em đã phải vô cùng đớn đau, quằn quại dưới những bàn tay tàn bạo của bọn hải tặc Thái Lan, trước khi bị chúng ném xuống biển, làm mồi cho cá!
 
Vậy thì, khi Lê Hiếu Đằng cũng như những kẻ đã và đang đòi “bỏ điều 4 Hiến pháp”, thì có nghĩa là họ chấp nhận toàn bộ bản “hiến pháp” của đảng CSVN chỉ trừ một “điều 4”, mà đã chấp nhận bản “hiến pháp” của Cộng sản, mặc nhiên họ đã chấp nhận đảng cũng như chế độ cai trị của CSVN trên đất nước và nhân dân Việt Nam. Rõ ràng, Lê Hiếu Đằng muốn cho đảng Cộng sản an ngôi, vững vị, trường trị nhân dân Việt Nam, cho dù chẳng còn cái “điều 4 hiến pháp” như từ thời “Cải cách ruộng đất”, phải “tập trung cải tạo-đánh tư sản mại bản v…v…” trước đây vậy.
 
Mặt khác, những kẻ đã và đang kêu gọi, đòi hỏi đảng cộng sản Hà Nội “bỏ Điều 4 Hiếp pháp” năm 1992, thì đương nhiên, họ đều chấp nhận ngồi chung với đảng Cộng sản trong các cơ chế cầm quyền của Cộng sản như: tham gia vào “Quốc hội”, vào “mặt trận Tổ quốc v…v… Nhưng nên biết, cần phải biết, cho dù đảng Cộng sản Hà Nội có “bỏ Điều 4 Hiến pháp” thì “Hiến pháp mới” vẫn có những “Điều khoản” khác ràng buộc, để đảng Cộng sản vẫn cứ tiếp tục nắm quyền cai trị trên cả nước. Chính vì thế, có hay không có “Điều 4 Hiến pháp” thì mọi sự đều không có thay đổi một điều gì hết.
 
Nói tóm lại, những kẻ đã và đang đòi hỏi “bỏ Điều 4 Hiến Pháp”, thì tất cả đều chấp nhận đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng – đứng dưới tượng ảnh của “lãnh tụ” Hồ Chí Minh của họ; nhưng trên hết, là họ đã chấp nhận đảng Cộng sản và chế độ của Cộng sản Hà Nội.
 
Chính vì vậy, nên trước những “đảng đối lập” gian trá của đảng Cộng sản Hà Nội đang xảy ra trước mắt, ngay tại thời điểm này, như trường họp của Lê Hiếu Đằng-Hồ Ngọc Nhuận… và có thể sẽ còn nhiều màn nữa. Xin mọi người chớ thờ ơ, chớ đi vào những “mặt trận giả”…
 
Ngày 17 tháng 8 năm 2013, người viết đã có một bài đầu tiên, để lên tiếng rằng: Đảng Cộng sản Hà Nội đã chỉ thị cho Lê Hiếu Đằng-Hồ Ngọc Nhuận thành lập đảng đối lập cò mồi !
 
Kể từ đó, cho đến hôm nay, cũng có nhiều người lên tiếng, lại có kẻ đồng môn với Lê Hiếu Đằng, từng thân thiết với Lê Hiếu Đằng tại thành phố Đà Nẵng, đã bênh vực và kêu gọi “hãy đón nhận Ls Lê Hiếu Đằng”. Nghĩa là “hãy đón nhận một đảng viên với 45 tuổi đảng Cộng sản Lê Hiếu Đằng”. Bất cứ ai cũng cần phải ghi nhớ câu này:
“Anh hãy cho tôi biết, anh thường giao du với ai, tôi sẽ cho anh biết anh là ai”.
 
Những tên Cộng sản, núp dưới chiêu bài “phản chiến”, từng đứng chung hàng ngũ với Lê Hiếu Đằng, đã một thời “đấu tranh” đem bàn thờ Phật xuống đường, để bên cạnh những đống rác, những cống rãnh hôi tanh tại thành phố Đà Nẵng; đặc biệt là học sinh trường Trung học Phan Châu Trinh, chắc không quên một vụ án do một học sinh của trường, đã dùng dao găm đâm chết giáo sư Trần Vinh Anh, Hiệu trưởng trường Phan Châu Trinh… Lê Hiếu Đằng, Nguyễn Đăng Trừng (Luật sư), Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Ngọc Chênh… còn nhớ chứ…
 
Cuối cùng, người viết xin trích đoạn những dòng của Lê Hiếu Đằng đã viết qua bài: “Những điều nói rõ thêm…” như sau:
“Những điều tôi viết trong bài này cũng như bài Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh là lời tâm huyết mà tôi đem cả tim óc để bộc bạch cho bạn bè, đồng đội và những người đã cùng nhau chiến đấu trước hoặc hiện nay, cũng như những người chưa quen biết trong và ngoài nước. Bệnh tôi chưa biết sẽ diễn biến ra sao, nhưng tôi hạnh phúc được nhiều người – kể cả có vị lãnh đạo cao của Đảng, Nhà nước – thăm hỏi, chăm sóc, có người còn cho những loại thuốc quý”.
 
Xin quý độc giả hãy cùng nhau đọc lại những dòng của Lê Hiếu Đằng đã viết; và nếu một lần chưa mở mắt được, thì xin hãy đọc thêm nhiều lần nữa:
“Bệnh tôi chưa biết sẽ diễn biến ra sao, nhưng tôi hạnh phúc được nhiều người – kể cả có vị lãnh đạo cao của Đảng, Nhà nước – thăm hỏi, chăm sóc, có người còn cho những loại thuốc quý”.
 
Đọc những dòng này của Lê Hiếu Đằng đã viết ra, thì chắc chắn, nếu một người bình thường, trí óc minh mẫn, đều phải hiểu được, nếu Lê Hiếu Đằng “đối lập” hay có ý “chống” đảng Cộng sản và nếu đảng Cộng sản Hà Nội không chỉ thị cho Lê Hiếu Đằng thành lập đảng đối lập cò mồi, thì làm gì được “đảng và nhà nước” xem Đằng như là con cưng của “đảng”, của “nhà nước” như chính Lê Hiếu Đằng đã kể trong bài: “Những điều nói rõ thêm” như sau đây:
“… tôi hạnh phúc được nhiều người – kể cả có vị lãnh đạo cao của Đảng, Nhà nước – thăm hỏi, chăm sóc, có người còn cho những loại thuốc quý”.
 
Chỉ chừng ấy thôi. Không có một kẻ nào, dù nhân danh bất cứ một tổ chức nào, cũng không thể biện minh, kể cả ngụy biện nổi cho những lời của Lê Hiếu Đằng đã viết ra cả.
 
Và một lần nữa, người viết phải lập lại:
Đảng Cộng sản đã chỉ thị cho Lê Hiếu Đằng-Hồ Ngọc Nhuận thành lập đảng đối lập cò mồi, để sơn son, thếp vàng cho đảng cộng sản Hà Nội !
 
Paris, ngày 24 tháng 8 năm 2013
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Việt cộng Huỳnh Ngọc Chênh ! viết bởi Phan Nhân


Việt cộng Huỳnh Ngọc Chênh !
 
Phan Nhân
 
 
BBC Việt ngữ, ngày thứ năm, 8/ 8/2013, đã đăng một bài viết của Việt cộng Huỳnh Ngọc Chênh, với tựa đề: “Tôi khát khao vào đảng”, với những “lời tâm huyết” của Huỳnh Ngọc Chênh như sau:
“Tôi vẫn hay nói đùa với bạn bè, 61 năm qua đời tôi không có đảng. Nói đùa cho vui vậy nhưng trong lòng tôi chua xót lắm”.
 
 ”Đảng” mà Huỳnh Ngọc Chênh đang “khao khát”,  là cái đảng Cộng sản Việt Nam, và Chênh đã “chua xót lắm vì chưa vào đảng”.  Thế nhưng đây chỉ là lời nói láo của một tên Việt cộng thâm niên cố đế, như chính Chênh đã viết công khai rằng:  y có cha ruột là “trùm Cộng sản – bí thư  đảng Cộng sản tại Tam Kỳ từ năm 1945”  cũng như có mẹ ruột, cô bác ruột, anh chị em ruột, anh rể,  và cả một cái dòng họ Huỳnh Ngọc tại quận Tam Kỳ, Quảng Nam, thì việc vào đảng cộng sản không có gì là lạ.
 
Ấy thế, mà bây giờ, vì mới được lãnh cái “giải công dân mạng”, hay là Công an mạng, nên Huỳnh Ngọc Chênh lại bày trò lừa gạt mọi người rằng y chưa có vào cái đảng cướp Việt cộng; nhưng “tôi khao khát vào đảng”, để trong tương lai y có công khai là đảng viên CS hoặc có thể làm “bí thư – trùm” của cái đảng CS như bố đẻ của Chênh vậy, thì cũng chỉ là tân đảng cướp, nhưng dù tân hay cựu như cái đại gia dình Cộng sản Huỳnh Ngọc kia, thì cũng vậy thôi, đâu có một điều gì khác , vì cũng đều là một lũ cướp cả.
 
Tuy nhiên, bây giờ, thì những kẻ đã từng lên tiếng bênh vực và ủng hộ Huỳnh Ngọc Chênh, và còn cố tình bịa đặt ra nhiều câu chuyện láo khoét và chụp nhiều thứ mũ rất vô giáo dục đối với những người đã lên tiếng tố cáo Việt cộng Huỳnh Ngọc Chênh đã sang Pháp theo kế hoạch của đảng CSVN nữa. Trong số đó, có Nguyễn Khanh của đài Á Châu Tự Do, đã gặp gỡ, phỏng vấn Huỳnh Ngọc Chênh. Thế tại sao, bây giờ  không thấy ai lên tiếng, để ủng hộ cho Chênh, khi Chênh đã công khai bày tỏ: “Tôi khát khao vào đảng”, hay Nguyễn Khanh và những kẻ này cũng “khao khát vào đảng… cướp” như “sư phụ” Huỳnh Ngọc Chênh cũng như đại gia đình đảng cướp Huỳnh Ngọc tại quậnTam Kỳ vậy.
 
Nhưng có điều hơi “lạ”, vì những người Việt đã từng tự đấm ngực, xưng danh là “đấu tranh, chống cộng”, nhưng mỗi lần có một tên Việt cộng nào đó, được đảng cướp chỉ thị cho ra hải ngoại để thực hiện theo “nghị quyết 36”, thì những kẻ có tài đánh hơi, nghe mùi này liền ôm bám lấy… để “lập công dâng đảng” cướp, để kiếm chút… vì sợ chậm trễ, thì phải ngửi thôi, chứ không được xực…
 
Nguyễn Khanh và những tên ngu ngốc đã từng “hồ hởi” viết bài, viết ý kiến để lên tiếng bênh vực cho đại gia đình của tên Việt cộng ác ôn Huỳnh Ngọc Chênh, và đã mất dạy bịa chuyện láo, vu khống, chụp mũ những người lên tiếng vạch mặt thằng Việt cộng Huỳnh Ngọc Chênh, hãy lên tiếng đi. Riêng tôi, như đã nói, tôi từng phục vụ tại Quảng Nam từ thời còn trẻ cho đến ngày 30/4/1975, khi VNCH đã bị mất vào tay của đảng cướp Việt cộng, rồi phải bị ở tù “cải tạo” của bọn cướp Việt cộng, thì tôi đã biết khá rõ về những tên Việt cộng cũng như gia đình của chúng, trong đó, có cả dòng họ Huỳnh Ngọc tại cái xã Kỳ Chánh, Kỳ Sanh, Kỳ Nghĩa, Kỳ Trà, Kỳ Long… thuộc thị xãTam Kỳ, Quảng Nam (trước kia là tỉnh Quảng Tín).
 
Nhân đây, tôi cũng cần nhắc lại cho dòng họ Việt cộng ác ôn Huỳnh Ngọc tại Tam Kỳ rằng: Trước ngày 30/4/1975, đã một thời, chúng bây đã từng sống chui rúc như loài rận, rệp trong những chiếc đũng quần của những  đồng bào tỵ nạn Cộng sản, để được hưởng các quy chế tỵ nạn Cộng sản, như được lãnh tiền ăn sáu tháng định cư, nhận lương thực, gồm gạo, mắm, muối, bột mì, bột sữa, bột lúa mạch… ở những tại những khu tiếp cư, trước khi có thể tự mua nhà, hoặc chuyển đến các nơi như: Khu Định Cư Vườn Lài, Khu Nam, Khu Tứ Hiệp… Nhưng đã có một số tên Việt cộng như gia đình của Huỳnh Ngọc Chênh đã sống chung với đồng bào chạy giặc CS, để hoạt động nội thành, và để làm những tên đặc công Việt cộng chuyên môn đi ném lựu đạn vào nhà thương, trường học… để giết hại đồng bào vô tội.
 
Riêng Huỳnh Ngọc Chênh, vì đã bị lộ hành tung là Việt cộng thứ thiệt rồi. Do đó, bây giờ phải bày đặt ra câu chuyện: “Tôi khát khao vào đảng”. Nghĩa là “tôi chưa vào đảng”, nhưng tương lai tôi sẽ vào đảng…  cướp Việt cộng. Nhưng nói gì thì nói, chứ mọi người đã biết rõ cái bộ mặt thật của Chênh rồi, không còn lừa bịp được ai nữa, trừ những tên muốn xực những thứ phế thải của Chênh.
 
Thật ra, trước khi viết ra bài này, tôi đã suy nghĩ, không cần phải nhắc lại cái tên Việt cộng Huỳnh Ngọc Chênh làm gì nữa, nhưng sau khi suy nghĩ, tôi tự thấy, mình phải viết ra một lần,  để cho mọi người đừng bao giờ ngây thơ mà tin theo những con bài  do đảng cướp Việt cộng, qua tay của bọn tay sai của chúng tại hải ngoại, để chúng vận động cho lãnh những thứ “giải”, để lừa gạt lòng tin của mọi người. Bởi vậy, cho dù chúng có được lãnh bất kể một thứ “giải” nào, thì cũng chỉ  là cái giải để bảo kê cho những hoạt động Cộng sản của chúng mà thôi.
 
Chúng ta đã bị đảng Việt cộng và bọn Ma Giáo Ấn Quang lừa bịp quá nhiều rồi, từ cái gọi là “Mặt trận Giải phóng miền Nam – Hòa hợp, Hòa giải…”, và cho đến bây giờ, sau gần 40 năm đất nước Việt Nam Cộng Hòa đã bị đảng cướp Việt cộng cướp mất, chúng ta, tất cả Dân, Quân, Cán, Chính VNCH, phải gánh chịu muôn vàn đau thương, tang tóc, đắng cay… biết nói, biết kể cho đến bao giờ mới hết. Chúng ta đã phải nuốt nước mắt bỏ quê hương, ra đi tìm tự do trên đất khách, quê người. Trong chúng ta, có người đã phải mất cha mẹ, mất vợ chồng, mất anh chị em ruột thịt sau ngày mất nước 30/4/1975, thì không thể vì một lý do thấp hèn nào, mà đánh mất lương tri, để cam phận làm tay sai cho đảng cướp Việt cộng.
 
Chính vì thế, không riêng tên Huỳnh Ngọc Chênh, vì hắn ta đã bị lộ tẩy rồi, mà bất cứ một tên Việt cộng khác còn cố gắng để che giấu hành tung là Việt cộng thứ thiệt đã và đang hoạt động, trà trộn trong cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại qua nhiều lãnh vực khác nhau… Chúng ta phải “giải phẫu” những lời chúng nói và những gì chúng viết ra, để hiểu được những điều bí ẩn trong đó… ; phải cảnh giác tối đa, phải tránh xa chúng, nếu có thể được, thì hãy tống cổ chúng ra khỏi cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng sản.
 
Còn đối với những kẻ từng là tù “cải tạo” của Việt cộng, từng là “thuyền nhân, bộ nhân” chạy ra hải ngoại, nhưng nay đã về ôm lấy… Việt cộng, hít hà kêu thơm, thì những kẻ này, có nhiều loại khác nhau:
 
Những tên già mất nết, mất dạy, vô đạo, bất luân… có tên ở hải ngoại thì lãnh tiền trợ cấp bệnh tật hay tiền cho người già nay trở về VN, dù với đồng tiền không nhiều, nhưng cũng đủ để du hí trên thân xác của những cô gái trẻ, đáng tuổi con, tuổi cháu của mình. Ngoài những hạng vô giáo dục như trên, thì còn có những đứa tham danh, hám lợi, nên đã về VN để xin bưng bô, làm tay sai chùi… chân cho đảng cướp Việt cộng, với hy vọng sẽ có một ngày sẽ có được một cái chức nào đó, để trả thù dĩ vãng.
 
Để tạm kết bài này, tôi xin kính mời quý độc giả hãy đọc và suy nghĩ cho thật kỹ về những lời của chính Huỳnh Ngọc Chênh đã viết ra. Đừng hời hợt, mà  mắc phải những sai lầm không chuộc lại được. Xin kính mời quý vị hãy cùng đọc, cùng suy nghĩ những dòng này của Huỳnh Ngọc Chênh như dưới đây:
 
“40 năm tôi luôn khao khát có một tổ chức chính trị hợp pháp nào đó phù hợp với lý tưởng sống, với phương pháp tư duy của tôi để tôi gia nhập.
 
Tôi luôn khao khát được sống trong tổ chức chính trị hợp pháp, được có những người bạn chí cốt, nghĩa là có những người đồng chí bên cạnh mình để cùng nhau bàn bạc về lý tưởng, hỗ trợ nhau trong cuộc sống, kề vai sát cánh với nhau trong hoạt động giúp ích cộng đồng, giúp ích đất nước và cả việc nâng đỡ, chia sẻ với nhau vào những lúc khó khăn, suy sụp.
 
Những việc ấy, không có tổ chức, không có những người bạn đồng chí hướng thì không thể nào tự một mình làm được”.
 
Chúng tôi hy vọng rằng, dù là một con người bình thường, thì cũng dễ dàng nhận ra cái gọi là “tổ chức chính trị hợp pháp…” đó, chính là cái đảng Cộng sản VN, mà Huỳnh Ngọc Chênh đã dùng hai chữ “khát khao”, với mục đích để dẫn dụ những người khác cũng sẽ “khát khao vào đảng” và “không chống đảng CS”, để “giúp ích đất nước” như “đảng chính trị hợp pháp” của Huỳnh Ngọc Chênh đã “giúp gia đình của nông dân Đoàn Văn Vươn vậy!
 
Colorado, 14/8/2013
Phan Nhân
_______________________________________________
 
 
Tôi khát khao vào đảng
Huỳnh Ngọc Chênh
 
Viết từ Sài Gòn
Cập nhật: 09:29 GMT – thứ năm, 8 tháng 8, 2013
 
Tôi vẫn hay nói đùa với bạn bè, 61 năm qua đời tôi không có đảng. Nói đùa cho vui vậy nhưng trong lòng tôi chua xót lắm.
 
Khi tôi bước vào lứa tuổi hai mươi thì đất nước cũng vừa thống nhất, cả nước đặt dưới quyền lãnh đạo của môt đảng duy nhất đó là đảng CSVN.
Tôi có điều kiện và rất hăm hở tìm hiểu, nghiên cứu lý tưởng, chủ thuyết và đường lối của đảng nầy.
Sau một thời gian nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê Nin cũng như tiếp xúc với thực tế qua các đảng viên, tôi thấy rằng với quan điểm sống và phương pháp tư duy của tôi, tôi không thích hợp với đảng này. Từ đó tôi từ bỏ ý định phấn đấu vào đảng mặc dù tôi vẫn liên tục làm việc trong hệ thống Nhà Nước do đảng nầy độc tôn lãnh đạo.
Vì hiểu biết về lý tưởng, chủ trương và đường lối của đảng ấy rất kỹ nên tôi biết rằng không vào đảng ấy thì không còn đảng phái chính trị nào khác để vào. Ngay cả các tổ chức hội đoàn khác không đặt dưới sự lãnh đạo của đảng ấy, không đi theo đường lối của đảng ấy thì cũng không có để vào.
Để khỏi bị đẩy ra ngoài vòng pháp luật, tôi phải cắn răng chấp nhận cuộc sống không có đảng, nghĩa là tôi phải lầm lũi cô độc sống giữa cuộc đời. Và phải sống như thế đã qua gần 40 năm!
40 năm tôi luôn khao khát có một tổ chức chính trị hợp pháp nào đó phù hợp với lý tưởng sống, với phương pháp tư duy của tôi để tôi gia nhập.
Tôi luôn khao khát được sống trong tổ chức chính trị hợp pháp, được có những người bạn chí cốt, nghĩa là có những người đồng chí bên cạnh mình để cùng nhau bàn bạc về lý tưởng, hỗ trợ nhau trong cuộc sống, kề vai sát cánh với nhau trong hoạt động giúp ích cộng đồng, giúp ích đất nước và cả việc nâng đỡ, chia sẻ với nhau vào những lúc khó khăn, suy sụp.
Những việc ấy, không có tổ chức, không có những người bạn đồng chí hướng thì không thể nào tự một mình làm được”.
 

Tù Cải Tạo: Tội ác chống nhân loại của Cộng sản VN, viết bởi Đỗ Ngọc Uyển


Tù Cải Tạo: Tội ác chống nhân loại của Cộng sản VN
Đỗ Ngọc Uyển
Sau khi chiếm được chính quyền tại Miền Bắc Việt Nam vào năm 1954, Hồ Chí Minh đã bê nguyên cái mô hình “hoc tập cải tạo” của Mao Trạch Đông từ Trung Cộng vào Miền Bắc Việt Nam. Đây là một kế hoạch nằm trong chính sách giết người có chủ đích, có tính toán dưới cái chiêu bài giả hiệu là “cải tạo” những người chống đối chủ nghĩa xã hội để trở thành công dân của nước xã hội chủ nghĩa. Với kế hoạch “cải tạo giết người” này, Hồ Chí Minh đã giết và thủ tiêu 850,000 người dân Miền Bắc trong những cái gọi là “trại học tập cải tạo.”

Sau ngày 30-4-1975, lũ Việt gian cộng sản cũng tiếp tục kế hoạch giết người này, và chúng đã giết và thủ tiêu 165,000 quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia trong 150 “trại cải tạo” của chúng trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

 

 
“Học Tập Cải Tạo” Bắt Đầu tại Miền Bắc Việt Nam
 
Để xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Miền Bắc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tiêu diệt tất cả những thành phần chống đối bằng những kế hoạch khủng bố sắt máu như:
·                     Rèn Cán Chỉnh Quân,
·                     Cải Tạo Công Thương Nghiệp,
·                     Cải Cách Ruộng Đất,
và đàn áp những phong trào
·                     Nhân Văn Giai Phẩm,
·                     Trăm Hoa Đua Nở…
 
Số nạn nhân của những vụ khủng bố này không ai biết là bao nhiêu, nhưng có thể ước tính là trên một triệu người, bởi vì chỉ riêng vụ gọi là “Cải Cách Ruộng Đất” đã có 700,000 nạn nhân.
 
Nói chung, cho tới đầu năm 1960 toàn thể xã hội Miền Bắc đã bị “cào bằng,” không còn giai cấp (social class). Các giai cấp trí, phú, địa, hào đã bị đào tận gốc, trốc tận rễ. Không ai có quyền tư hữu và mọi người đều nghèo khổ, đói rách như nhau. Mỗi năm, mỗi người được phát 2 thước vải thô Nam Định chỉ có thể may được một cái quần hay một cái áo, và hàng tháng được phát 15kg gạo, 200gr đường… Chưa hết, với chủ trương tuyệt diệt những thành phần chống đối, Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho cái quốc hội bù nhìn “ban hành” một nghị quyết về “học tập cải tạo.” Đây là một mẻ lưới “vĩ đại” cuối cùng nhằm vét hết những thành phần có thể gây cản trở cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của y. Các trại “cải tạo” của Hồ Chí Minh được rập theo đúng khuôn mẫu các trại “lao cải” (laogai hay laojiao) của Mao Trạch Đông… Theo lệnh của Hồ, quốc hội cộng sản đã “ban hành” một Nghị Quyết (Resolution) về “học tập cải tạo” mang số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961. Căn cứ vào nghị quyết này, hội đồng chính phủ đã “đẻ” ra cái Thông Tư (General Circular) số 121-CP ngày 8-9-1961 để áp dụng trong toàn nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
 
Những nạn nhân bị chi phối bởi cái nghị quyết trên gồm những thành phần sau đây:
1.                 Tất cả những gián điệp nguy hiểm, những biệt động; tất cả những quân nhân và viên chức hành chánh của chính quyền quốc gia trước đây.
2.                 Tất cả những nhân vật nòng cốt của các tổ chức và đảng phái đối lập.
3.                 Tất cả những thành phần ngoan cố thuộc giai cấp bóc lột và những kẻ chống phá cách mạng.
4.                 Tất cả những kẻ chống phá cách mạng đã bị tù và hết hạn tù nhưng không chịu cải tạo.
                
Bốn thành phần trên đây đều có một đặc điểm chung mà cộng sản gọi là “những thành phần ngoan cố, chống phá cách mạng.” (obstinate counter-revolutionary elements).
 
Thời gian “cải tạo” được ấn định là 3 năm, nhưng sau 3 năm mà chưa “tiến bộ” thì “cải tạo” thêm 3 năm nữa và cứ như thế tiếp tục tăng thêm 3 năm nữa… cho đến khi nào “học tập tốt, cải tạo tốt” thì về, thực tế là vô thời hạn. Ngoài Hồ Chí Minh và những tên đồng đảng ra, không ai biết được số nạn nhân bị đưa đi “cải tạo” là bao nhiêu; nhưng có thể ước tính là nhiều triệu người, căn cứ vào con số nạn nhân chết trong các “trại cải tạo” là 850,000 người do Tổ Chức Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản (The Victims of Communism Memorial Foundation) đưa ra: (…When Ho Chi Minh sent 850,000 Vietnamese to their graves in reeducation camps …)
 
 
“Học Tập Cải Tạo” tại Miền Nam Việt Nam
 
Cộng sản ước tính rằng tại Miền Nam có 1,300,000 người đã tham gia vào chính quyền Quốc Gia và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và mỗi gia đình có 5 người; như vậy là có 6,500,000 người có nợ máu với chúng.
·                     Những người nào phục vụ trong quân đội hay trong chính quyền thì phải đi “cải tạo” và
·                     những thành phần còn lại trong gia đình thì phải đi những “khu kinh tế mới;”cũng là một cách đưa đi đầy ải tại những vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh. Đây là một kế hoạch “tắm máu trắng” đã được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của của tập đoàn Việt gian cộng sản.
 
Một tháng sau khi xâm chiếm được Miền Nam, lũ bán nước cộng sản áp dụng Nghị Quyết số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961 và Thông Tư số 121-CP ngày 8-9-1961 của chúng để đưa một triệu quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia chống cộng đi “học tập cải tạo,” thưc chất là đưa đi tù để trả thù (revenge). Đây là cung cách hành xử man rợ của thời trung cổ. Và bằng lối hành xử dã man, rừng rú này, cộng sản đã phạm 5 trong số 11 Tội Ác chống Nhân Loại [1] (Crimes against Humanity) theo luật pháp quốc tế được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) như sau:
 
 
Tội ác thứ 1 – Tội cầm tù hay tước đoạt tự do thân thể một cách nghiêm trọng,
 
vi phạm những điều luật căn bản của luật pháp quốc tế (Imprisonment or other severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law)

Những người bị cộng sản cầm tù (imprisonment) sau ngày 30-4-1975 là những người bị cộng sản trả thù vì lý do chống cộng tức lý do chính trị. Cộng sản không thể mang những người này – công dân của một một quốc gia độc lập đã bị Việt gian cộng sản, tay sai của Quốc Tế 3, xâm chiếm bằng vũ lực (aggression) một cách phi pháp – ra toà án để kết tội. Cộng sản nguỵ biện một cách láo xược rằng những người này là những tội phạm chiến tranh (war criminals) theo điều 3 của đạo luật về tội chống phá cách mạng ban hành ngày 30-9-1967 của chúng (article 3 of the 30 October 1967 law on counter-revolutionary crimes) và rằng nếu mang ra tòa án xét xử thì những người này có thể bị kết án từ 20 năm tù đến chung thân hay tử hình; nhưng vì chính sách “khoan hồng” và sự “chiếu cố” của đảng nên những người này được đưa đi “học tập cải tạo” thay vì đưa ra toà án xét xử. Đây là một sự nguỵ biện trơ trẽn và lếu láo. Luật rừng rú của đảng cộng sản không có một chút gì gọi là công lý của thời đại văn minh mà chỉ là một công cụ man rợ của thời trung cổ để khủng bố người dân Miền Bắc dưới sự thống trị của chúng, và không thể mang ra áp dụng cho công dân của một quốc gia văn minh như VNCH được.
Tóm lại, giam cầm người không chính thức kết án, không xét xử (imprisonment without formal charge or trial) là vi phạm nhân quyền và là Tội Ác chống Loài Người.
 
 
Tội ác thứ 2 – Tội tra tấn, hành hạ (Torture)
 
Đối với cộng sản, các quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hoà và những người quốc gia chống cộng là kẻ thù không đội trời chung của chúng. Do đó, một khi đã sa cơ rơi vào tay chúng là dịp để chúng trả thù bằng tra tấn và hành hạ. Mục đích trả thù của chúng là nhằm tiêu diệt hết khả năng chống cự của cả thể chất lẫn tinh thần của người tù. Sau đây là vài đòn thù tiêu biểu:
 
a. Hành hạ bằng cách bỏ đói – Đây là một đòn thù thâm độc nhằm tiêu diệt ý chí của người tù về lâu về dài. Người tù bị đói triền miên, không còn nghĩ đến chuyện gì khác ngoài miếng ăn. Quanh năm suốt tháng không một bữa được ăn no; càng ăn càng đói và đói cho tới khi chết. Ngay cả trong giấc ngủ cũng chỉ mơ đến miếng ăn. Bát cơm và miếng thịt là một ước mơ xa vời. Trên nguyên tắc, mỗi người tù được cấp mỗi tháng 12kg gạo. Nhưng thực tế, người tù chỉ được cấp ngô, khoai, sắn, bo bo… tương đương với 12kg gạo mà chúng gọi là “quy ra gạo.” Ngô, khoai, sắn và bo bo mà chúng cho tù ăn là những thứ được cất giữ lâu ngày trong những kho ẩm thấp, bị mục nát, hư hỏng và đầy sâu bọ. Với số lượng và phẩm chất lương thực như thế, tính ra chỉ cung cấp đươc khoảng từ 600 đến 800 calories một ngày, không đủ để sống cầm hơi, lại phải làm công việc khổ sai nặng nhọc cho nên đã có rất nhiều tù nhân chết vì đói, vì suy dinh dưỡng. Sau đây là một ví dụ: vào cuối năm 1978, tại trại 2 thuộc liên trại 1 Hoàng Liên Sơn có một anh bạn tù vì “lao động” nặng nhọc và suy dinh dưỡng đang nằm chờ chết. Anh em bạn tù thấy vậy bèn hỏi xem anh ta có muốn nhắn gì về cho vợ con hay người thân không? Anh bạn tù sắp chết nói rằng anh ta chỉ muốn được ăn no một bữa khoai mì luộc! Nghe vậy, có một anh tù, vì thương bạn, đã mạo hiểm chui qua hàng rào, đào trộm vài củ khoai mì do chính tù trồng, mang về luộc, rồi mang lên cho bạn thì anh bạn đã chết. Thỉnh thoảng tù cũng được cho ăn cơm nhưng lại độn hai phần sắn hay khoai với một phần gạo, và mỗi bữa ăn, mỗi người được phân phát một chén nhỏ với nước muối. Đến mùa “thu hoạch” ngô và khoai mì do tù trồng, anh em tù cũng được cấp phát ngô và khoai mì luộc. Mỗi bữa ăn được phân phát hai cái bắp ngô, chỉ đếm được chừng 1000 hạt, và khoai mì thì được cấp phát hai khúc, mỗi khúc ngắn độ một gang tay. Còn thịt thì chỉ được cấp phát vào những dịp đặc biệt như ngày tết Nguyên Đán, ngày lễ độc lập của chúng, ngày sinh nhật “Bác”của chúng; mỗi phần ăn được khoảng 100gr thịt heo hay thịt trâu.
 
Bỏ đói tù là một thủ đoạn tra tấn/hành hạ (torture) đê tiện, có tính toán của cộng sản. Ngoài việc huỷ diệt ý chí của người tù, sự bỏ đói còn nhằm huỷ hoại thể chất của người tù để không còn sức đề kháng chống lại bệnh tật. Do đó, đã có rất nhiều anh em mắc những chứng bệnh do suy dinh dưỡng như lao phổi, kiệt sức, phù thũng, kiết lỵ, ghẻ lở…, và có rất nhiều cái chết rất đau lòng chỉ vì đói, vì suy dinh dưỡng, vì thiếu thuốc men và không được chữa trị…
 
b. Hành hạ thể xác – Cộng sản vẽ ra khẩu hiệu “lao động là vinh quang.” Chúng bắt người tù phải làm công việc khổ sai nặng nhọc như cuồc đất, đào đất, làm đường, đào ao, chặt cây, đốn gỗ, cưa xẻ, làm gạch…Người tù đã thiếu ăn, kiệt sức; chúng lại đặt ra những chỉ tiêu cao để người tù không thể đạt được, và chúng kiếm cớ để hành hạ thể xác:

Cắt tiêu chuẩn lương thực từ 12kg xuống còn 9kg và nhốt vào conex, khoá chặt. Người tù bị nhốt như vậy có khi hàng tháng. Với sức nóng mùa Hè và khí lạnh mùa Đông không thể chịu đựng nổi, người tù bị chết vì sức nóng và chết vì rét.
Cắt tiêu chuẩn lương thực xuống còn 9kg; nhốt trong sà lim; hai chân bị cùm siết chặt đến chảy máu; da thịt bị nhiễm trùng, lở loét; người tù bị nhốt như vậy trong nhiều tháng trời và khi được thả ra chỉ còn da bọc xương, đi không nổi phải bò.

Chúng cột người tù vào một cây cột và bắt người tù phải đứng thẳng hoặc nằm hay ngồi cả tuần lễ có khi lâu hơn.

Chúng trói người tù theo kiểu cánh bướm “butterfly style or contorted position” bằng cách bắt một cánh tay bắt chéo qua vai và cánh tay kia bắt qua sau lưng và cột chặt hai ngón tay cái với nhau.

Chúng cột người tù trong tư thế bị trói như vậy vào một cái cột và bắt đứng trong nhiều tiếng đồng hồ. Người tù chịu không nổi, bị ngất xỉu.
Trên đây chỉ là vài cách hành hạ (torture) thể xác tiêu biểu. Cộng sản còn nhiêu kiểu hành hạ độc ác khác như nhốt người tù vào chuồng cọp hay bỏ xuống những giếng nước khô cạn, bỏ hoang lâu ngày, đầy những ổ rắn rết…
 
c. Tra tấn tinh thần – Mục đích của cộng sản là làm cho tinh thần người tù luôn luôn bị căng thẳng để gây tổn thương trầm trọng cho sức khoẻ thể chất và tinh thần (causing serious injury to physical and mental health) bằng hai phương pháp sau đây:
·          Nhồi sọ chính trị (Political indoctrination) – Để mở đầu kế hoạch “cải tạo,” cộng sản bắt người tù phải học 9 bài chính trị. Mỗi bài phải học từ một tuần lễ đến 10 ngày gồm: lên lớp, thảo luận trong tổ, trong đội… Cuối mỗi bài học, người tù phải viết một bản gọi là “thâu hoạch” để nộp cho chúng. Nội dung những bài học gọi là chính trị này chỉ là những bài tuyên truyền rẻ tiền như: Mỹ là tên đầu sỏ đế quốc, là con bạch tuộc có hai vòi: một vòi hút máu nhân dân Mỹ và một vòi hút máu nhân dân nước ngoài. Ta đánh Mỹ cũng là giải phóng cho nhân dân Mỹ thoát khỏi sự bóc lột của đế quốc Mỹ. Đế quốc Mỹ là con hổ giấy. Mỹ giầu nhưng không mạnh. Ta nghèo nhưng ta mạnh. Dưới sự lãnh đạo của đảng quang vinh, ta đã đánh thắng tên đế quốc sừng sỏ nhất thời đại. Nguỵ quân, nguỵ quyền là tay sai của đế quốc Mỹ, có nợ máu với nhân dân và là tội phạm chiến tranh…Bài học cuối cùng là bài “lao động là vinh quang” để chuẩn bị bắt người tù làm những việc khổ sai nặng nhọc.
 
Những bài tuyên truyền rẻ tiền và ấu trĩ trên đây chỉ có thể áp dụng cho người dân bị bưng bít và thiếu học ở Miền Bắc đã bị cộng sản u mê hoá chứ không có tác dụng gì đối với những người đã sống dưới chính thể tự do tại Miền Nam. Tuy nhiên, cái không khí khủng bố của trại tù đã làm cho một số anh em hoang mang và căng thẳng tinh thần. Do đó, đã có một số người tự sát và trốn trại. Những người trốn trại chẳng may bị bắt lại đã bị chúng mang ra toà án nhân dân của chúng kết tội và bắn chết ngay tại chỗ. Đây là đòn khủng bố tinh thần phủ đầu của cộng sản theo kiểu “sát nhất nhân, vạn nhân cụ.”
 
·          Tự phê (Confession) – Tiếp theo phần “học tập chính trị” là phần “tự phê.” Người tù phải viết một bản tiểu sử kể từ khi còn nhỏ cho tới khi vào tù; phải kê khai thành phần giai cấp của dòng họ từ ba đời trước cho đến con cháu sau này; phải kê khai những việc làm trong quá khứ và phải kết tội những việc làm đó là gian ác cũng như phải tự kết tội mình có nợ máu với nhân dân. Người phát thư cũng bị kết tội là đã chuyển thư tín giúp cho bộ máy kìm kẹp của nguỵ quân, nguỵ quyền. Các vị tuyên uý trong quân đội bị kết tội là đã nâng cao tinh thần chiến đấu của nguỵ quân. Các bác sĩ quân y thì bị kết tội là đã chữa trị cho các thương, bệnh binh để mau chóng phục hồi sức chiến đấu của nguỵ quân…Tóm lại, tất cả nguỵ quân, nguỵ quyền đều là những thành phần ác ôn, có nợ máu với nhân dân và phải thành khẩn khai báo những tội ác cũng như phải thành khẩn lao động sản xuất để sớm được đảng cứu xét cho về đứng “trong lòng dân tộc.” Trong suốt thòi gian bị tù, người tù phải liên tiếp viết những bản tự phê; phải moi óc tìm và “phịa” ra những “tội ác” để tự gán và kết tội mình, và nếu bản viết lần sau thiếu vài “tội ác” so với bản viết lần trước, anh sẽ bị kết tội là vẫn còn ngoan cố và thời gian học tập sẽ còn lâu dài.
 
“Tự phê” một đòn tra tấn tinh thần rất ác ôn. Nó làm cho người tù bị căng thẳng tinh thần triền miên kể cả trong giấc ngủ và đã có một số anh em gần như phát điên, la hét, nói năng lảm nhảm và có người đã tự vẫn…
 
 
Tội ác thứ 3 – Tội giết người (Murder)
 
Những anh em trốn trại bị bắt lại đã bị cộng sản mang ra xử tại toà án nhân dân của chúng và bị bắn chết ngay tại chỗ. Đây là tội ác giết người (murder) bởi vì trên danh nghĩa cũng như theo pháp lý thì những người này chỉ là những người đi học tập. Và khi một người đi học tập mà trốn trại học tập là chuyện rất thường tình, không có tội lỗi gì đối với pháp luật. Nhưng đối với bọn vô nhân tính cộng sản thì không thể nói chuyện lý lẽ với chúng được. Vào một ngày cuối năm 1975, tại trại giam Suối Máu, Biên Hoà, chúng mang hai anh sĩ quan cấp uý trốn trại bị bắt lại ra xử tại toà án nhân dân rừng rú của chúng được thiết lập ngay trong trại giam. Trước khi mang ra xử, chúng đã tra tấn hai anh này đến mềm người, rũ rượi, xụi lơ, không còn biết gì nữa. Ngồi trên ghế xử, tên “chánh án” cùng ba tên đồng đảng giết người mặt sắt đen sì, răng đen mã tấu, dép râu, nón cối, ngập ngọng giọng Bắc Kỳ 75 đọc xong “bản án giết người” đã viết sẵn và ngay lập tức chúng mang hai anh ra bắn chết cạnh hai cái hố đã đào sẵn. Buổi trưa hôm đó bầu trời Biên Hoà có nắng đẹp, nhưng khi tiếng súng giết người nổ vang lên, mây đen bỗng kéo đến phủ tối cả bầu trời và đổ xuống những hạt mưa nặng hạt. Tất cả anh em trong trại giam lặng lẽ cúi đầu tiễn đưa hai đồng đội sa cơ, thất thế.
 
Ngoài cách giết người rừng rú trên đây, cộng sản còn chủ tâm giết người bằng nhiều cách khác như cho ăn đói và bắt làm khổ sai nặng nhọc để chết dần chết mòn; để cho chết bệnh, không cung cấp thuốc men, không chữa trị; bắt làm những việc nguy hiểm chết người như gỡ mìn bằng tay không…
 
 
Tội ác thứ 4 – Tội bắt làm nô lệ (Enslavement)
 
Người tù phải sản xuất lương thực như trồng sắn, trồng ngô, trồng khoai, trồng rau…để tự nuôi mình; ngoài ra, còn phải sản xuất hàng hoá, sản phẩm để bán ra ngoài thị trường. Tại các trại tù trong vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn, người tù phải đốn gỗ, cưa xẻ, chặt giang, chặt nứa, chặt vầu… để trại tù mang đi bán. Tai trại tù Hà Sơn Bình có những đội cưa xẻ, đội mộc, đội gạch để sản xuất bàn, ghế, giường, tủ và gạch để bán. Tại trại tù Z30D, Hàm Tân, người tù phải trồng mía, sản xuất đường; mỗi tháng bán hàng tấn đường ra ngoài thị trường… Cộng sản bắt người tù phải làm công việc như người nô lệ thời trung cổ khi phe thắng trận bắt người bên phe thua trận phải làm nô lệ lao động (slave labour) thay vì mang đi giết. Đây là sự vi phạm nhân quyền một cách man rợ của thời trung cổ và là một Tội Ác chống Loài Người.
 
 
Tội ác thứ 5 – Tội thủ tiêu mất tích người (Enforced disappearance of persons)
 
Theo các tài liệu nghiên cứu có giá trị hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu thì số nạn nhân chết trong các “trại cải tạo” là 165,000 người. Hiện nay, ngoài cộng sản ra, không ai biết nơi chôn cất các nạn nhân này. Suốt bao nhiêu năm nay, chúng không cho thân nhân cải táng để mang hài cốt về quê quán. Đây là đòn thù vô nhân đạo đối với những nạn nhân đã nằm xuống, và là hành vi độc ác (inhumane act) gây đau khổ tinh thần triền miên, suốt đời cho thân nhân các nạn nhân. Chỉ có một số rất ít, không đáng kể, thân nhân các nạn nhân đã chạy chọt, tìm được cách cải táng người thân của họ; còn tuyệt đại đa số 165,000 người tù chính trị được coi như đã bị thủ tiêu mất tích. Đây là chủ tâm trả thù dã man của cộng sản và là một Tội Ác chống Nhân Loại.
 
Mới đây nhất, trong cuộc họp với tổng thống George W. Bush tai Bạch Cung ngày 24-6-2008, Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng hứa sẽ tiếp tục tìm kiếm và trao cho Hoa Kỳ hài cốt những quân nhân Mỹ mất tích (MIA) trong cuộc chiến VN. Trong khi đó quân cộng sản giết người đang chôn giấu để thủ tiêu mất tích hài cốt của 165,000 quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia đã bị chúng sát hại, sau ngày 30-4-1975, trong 150 “trại tù cải tạo” của chúng trên toàn cõi VN. Điều này chứng tỏ rằng lũ Việt gian cộng sản tiếp tục nuôi dưỡng hận thù đối với người Việt quốc gia, ngay cả đối với những người đã nằm xuống, trong khi miệng chúng luôn luôn hô hào hoà hợp hoà giải. “Đừng nghe những gì cộng sản nói; hãy nhìn kỹ những gì chúng làm.”
 
Ngoài 5 tội ác chống loài người kể trên, vào năm 1980, cộng sản đã có kế hoạch đưa gia đình những người tù từ Miền Nam để cùng với những thân nhân của họ đang bị tù tại Miền Bắc đi “định cư” tại những “khu kinh tế mới” ở Miền Bắc mà thí điểm đầu tiên là khu Thanh Phong/Thanh Cầm, một khu rừng thiêng nước độc tại Miền Bắc, nơi đang có những “trại cải tạo.” Ý đồ của âm mưu thâm hiểm này là đưa đi đầy chung thân, khổ sai, biệt xứ để giết dần, giết mòn tất cả những người tù cùng với gia đình họ. Đây là một kế hoạch diệt chủng (genocide) được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của tập đoàn Việt gian cộng sản. Nhưng trời bất dung gian, chúng không thực hiện được âm mưu diệt chủng này vì cục diện thế giới thay đổi dẫn đến sự phá sản của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới, và chúng đã phải thả những nạn nhân của chúng ra để họ đi định cư tại Hoa Kỳ với tư cách là những người tỵ nạn chính trị (political refugees).
 
Cái nghị quyết số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961 của tên đại Việt gian bán nước Hồ Chí Minh – cho tới ngày hôm nay vẫn còn hiệu lực – là một dụng cụ đàn áp thâm hiểm nhất để chống lại nhân quyền (the most repressive tool against human rights). Suốt nửa thế kỷ vừa qua, bằng cái nghị quyết phản động này, lũ bán nước cộng sản đã và đang tiếp tục đưa hàng triệu, triệu người Việt Nam đi “học tập cải tạo” mà không qua một thủ tục pháp lý nào cả. Với 5 Tội Ác chống Nhân Loại (Crimes against Humanity) như đã trình bày trên đây, bọn Việt gian cộng sản phải bị mang ra xét xử tại Toà Án Hình Sự Quốc Tế [2] (International Criminal Court).
 
Số Nạn Nhân Bị Giam Cầm, Số Nạn Nhân Chết và Số “Trại Tù Cải Tạo”
Theo sự ước tính của các tài liệu nghiên cứu có tính hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu đã được phổ biến “…According to the published academic studies in the United States and Europe…” thì số nạn nhân và số các “trại tù cải tạo” được ước tính như sau:
·                     1 triệu nạn nhân đã bị giam giữ không bị chính thức kết tội hay xét xử (without formal charge or trial).
·                     165,000 nạn nhân chết tại các “trại tù cải tạo.”
·                     Có ít nhất 150 “trại tù cải tạo” sau khi Sàigòn sụp đổ.
 
 
Thời Gian “Cải tao”
Có những nạn nhân đã bị giam giữ tới 17 năm, và theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì đại đa số nạn nhân bị giam giữ từ 3 tới 10 năm, và tính trung bình mỗi người phải trải qua 5 trại giam. “…according to the U.S. Department of State, most term ranging from three to 10 years…” Nếu lấy con số trung bình là 7 năm tù cho mỗi người thì số năm tù của một triệu nạn nhân là 7 triệu năm. Đây là một tội ác lịch sử không tiền khoáng hậu của bọn Việt gian cộng sản; vượt xa cả tội ác một ngàn năm của bọn giặc Tầu và một trăm năm bon giặc Tây cộng lại.
 
 
Món Nợ của Hoa Kỳ Đối Với Đồng Minh.
 
Chính phủ Hoa Kỳ công nhận những người bị giam cầm (imprisonment) này là những ngưòi tù chính trị, và đã điều đình với phỉ quyền cộng sản để cho những người này được thả ra để cùng với gia đình đi đinh cư tỵ nạn tại Mỹ ưu tiên theo Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) đối với những người bị giam cầm từ 3 năm trở lên. “…The U.S. government considers reeducation detainees to be political prisoners. In 1989 the Reagan administration entered into an agreement with the Vietnamese government, pursuant to which Vietnam would free all former AVN soldiers and officials held in reeducation camps and allow them to immigrate to the United States… that gives priority to those who spent at least three years in reeducation…”
 
Hoa Kỳ coi việc đưa những người tù chính trị này sang định cư tỵ nạn tại Mỹ là để trả một món nợ quốc gia đối với đồng minh trong thời chiến. Những người này đã bị giam cầm vì đã cộng tác mật thiết với Hoa Kỳ trong cuộc chiến. “… Resettling this group will be a step toward closing out this nation’s debt to its Indochina wartime allies. “These people have been detained because of their closed association with us during the war,” said Robert Funseth, the senior deputy assistance secretary of state for refugee affairs who spent most of this decade negotiating their resettlement…”
 
Phải nói môt cách chính sác rằng những người tù chính trị Việt Nam đi định cư tỵ nạn tại Mỹ theo một chương trình ra đi đặc biệt (a special program) nằm trong khuôn khổ của Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) chứ không phải theo chương trình HO (Humanitarian Operation) tưởng tượng nào cả. Cái gọi là chương trình HO chỉ là sự suy diễn từ các con số thứ tự của các danh sách những người tù chính trị đã được cộng sản trao cho Hoa Kỳ để phỏng vấn đi tỵ nạn tại Mỹ theo thứ tự: H.01, H.02…. H.10, H.11, H.12…
 
Cộng sản và tay sai có thể lợi dụng cái danh xưng “HO” không Chính không Thực và Lập Lờ này cho những âm mưu đen tối của chúng. Chúng có thể tuyên truyền lếu láo rằng: “Không những đảng đã tha chết cho bọn tội phạm chiến tranh này, mà còn tổ chức cả một “Chiến Dịch Nhân Đạo/HO” để cho đi định cư tại ngoại quốc. Ra đến ngoại quốc đã không biết ơn lại còn đi đấu tranh, biểu tình chống lại đảng…” Sự kiện tù chính trị là một sự kiện có tính chính trị và lịch sử; phải xử dụng Danh cho Chính. Không thể Lộng Giả Thành Chân cái nguỵ danh “HO” để xuyên tạc sự thật lịch.
 
Học tập cải tạo” là một nguỵ danh để che đậy 5 Tội Ác chống Loài Người (Crimes against Humanity) được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) của bè lũ Việt gian cộng sản đối với quân, dân, cán, chính VNCH đã bị chúng giam cầm (imprisonment) một cách phi pháp sau ngày 30-4-1975. Đây cũng là một tội ác có tính lịch sử của lũ Việt gian cộng sản. Cái nguỵ danh “tù cải tạo/HO” phải được Chính Danh là: Tù Nhân Chính Trị và Nạn Nhân của Tội Ác chống Loài Người của Hồ Chí Minh và bè lũ cộng sản. Cũng cần phải nói thêm rằng khi dùng cái danh từ “cải tạo” của cộng sản là mắc mưu chúng bởi vì chúng tuyên bố lếu láo rằng vì các anh có “nợ máu” với nhân dân nên các anh phải đi “cải tạo,” và khi tự gọi mình là “tù cải tạo” tức là tự nhận mình có tội. Cũng như khi tự gọi mình là một “HO”- một cái nguỵ danh đã bị lộng giả thành chân để chỉ một người “tù cải tạo” – là tự từ bỏ cái căn cước người tù chính trị của mình. Cho nên, Chính Danh là vấn đề rất quan trọng cả về chính trị và lịch sử. Dùng Nguỵ Danh để che đậy và bóp méo một sự kiện lịch sử là tội đại gian và có tội đối với lịch sử.
Đỗ Ngọc Uyển
Khóa 4 Thủ Đức
Binh chủng TT
Sanjose, California
——————————————————————————–
Tài liệu tham khảo:
http://untreaty.un.org/cod/icc/STATUTE/99_corr/cstatute.htm (Rome Statute of International Criminal Court)
http://www.optionaljournal.com/best/?id=110010372 (The Wall Street Journal, Monday, July 23, 2007 – Best of The Web Today by James Tananto)
http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=953D7103DF936A25753C1A96F948260&sec= &spon=…(The New York Times, October 15, 1989
– THE NATION; The Next Wave From Vietnam: A new Disability by Seth Mydans)
– U.S Department of State – Fact sheet – Bureau of Population, Refugee and Migration – Washington DC – January 16, 2004
Chú thích :
[1] 11 tội ác chống nhân loại được dự liệu trong Điều 7 của Đạo Luật Rome gồm có: 1- Murder; 2- Extermination ; 3- Enslavement; 4- Deportation or forcible transfer of population; 5- Imprisonment or other severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law; 6- Torture; 7- Rape, sexual slavery, enforced prostitution, forced pregnancy, enforced sterilization or other form of sexual violence of comparable gravity; 8- Persecution against any identifiable group or collectivity on political, racial, national, ethnic, cultural, religious, gender as defined in paragraph 3, or other grounds that are universally recognized as impermissible under international law in connection with any crime within the jurisdiction of the court; 9- Enforced disappearance of persons; 10- The crime of apartheid; 11- Other inhumane acts of a similar character causing great suffering, or serious injury to body or to mental or physical health;
[2] Toà Án Hình Sự Quốc Tế (International Criminal Court) là toà án độc lập và thường trực được thành lập theo Đạo Luật Rome (The Rome Statute) để điều tra và xét xử 4 loại tội ác sau đây: 1- Crimes against humanity (Tội ác chống nhân loại); 2- The crime of genocide (Tội ác diệt chủng); 3- Crimes of war (Tội ác chiến tranh); 4- Crimes of aggression (tội ác xâm lược).
1975 – 1980:
– Cướp tài sản của nhân dân bằng cách đánh tư bản mại sản. Mua nhà của dân, rồi in và đổi tiền nhiều lần.
– Bắt nghĩa vụ quân sự thanh niên miền nam, bắt huấn luyện tượng trưng vài tháng rồi dẫn độ qua Campuchia cho bọn Polpot bắn giết từ phía trước và giặc bộ đội chính quy việt nam bắn từ phía sau…với mục đích tiêu trừ thật nhiều thanh niên miền nam, những người đã lớn lên, sống và hiểu biết về chế độ tàn ác cộng sản. Hàng ngàn thanh thiếu niên đã chết tức tưởi và không được thông báo cho gia đình…Đây là chiến dịch giệt chủng tàn độc của bọn việt cộng giải phóng… 
– Chuyện một em bé 12 tuổi ăn cắp một con gà…Chính quyền giải phóng miền nam bắt em mang ra sân vận động Đạt Đức ở gần Xóm Mới bắn tử hình để dằn mặt người dân miền nam năm 1975…Với khẩu hiệu “Đảng Liêm Chính và Chuyên Chính Vô Sản”. 
– Chương trình kinh tế mới nhằm cướp thêm tài sản của dân trong vùng thành phố. Nhất là những tài sản của gia đình quân nhân VNCH. “Chương trình Lao Động Để Được Nhà Nước Khoan Hồng”. 
– Người vượt biên, vượt biển thì chúng ghép cho tội: Những loại người phản quốc / bọn đầu trộm đuôi cướp / đĩ điếm v.v… Nay thì lại đổi giọng là Việt Kiều Yêu Nước / Khúc ruột ngàn dặm v.v.. Xin mời người việt hải ngoại trở về giúp xây dựng đất nước!!?? 
– Đảng và nhà nước – một lũ ăn cướp biết bao nhiêu là tài sản của nhân dân, dâng Hoàng Sa Trường sa cho giặc / dẫn giặc tàu vào Tây Nguyên qua chương trình khai thác Bauxite và những khu đất rừng cho tàu cộng mượn 50 năm không tính toán!!?? Nước việt nam có khu khai mỏ của tàu (đây là căn cứ của gián điệp tàu cộng do nhóm quân đội trung quốc là những công nhân trá hình đang phát triển những căn cứ / quân khu ngầm ngay trong lòng đất việt!!!, nhạc tàu, gái việt lấy tàu, đẻ con cho tàu…Chính quyền và đảng cộng sản việt nam đang tiếp tay cho Tàu cơ hội phát huy chiến dịch đồng hóa dân việt… 
– Phá rừng, khai sông, phá hoại thiên nhiên không tội vạ! ai đã và đang làm những điều này? 
– Hàng trăm ngàn tội ác khác mà không lâu nữa những người cộng sản sẽ phải trả lời dưới ánh sáng của mặt trời và trước toàn thể người dân Việt Nam….
Khốn nạn thay…