HRW chỉ trích World Bank ở Việt Nam Cập nhật: 11:03 GMT – thứ hai, 22 tháng 7, 2013


HRW chỉ trích World Bank ở Việt Nam

Cập nhật: 11:03 GMT – thứ hai, 22 tháng 7, 2013
Giám đốc Ngân hàng Thế giới ở Việt Nam Victoria Kwakwa tại một hội nghị

Giám đốc World Bank ở VN, bà Victoria Kwakwa, nói không biết cáo buộc về vi phạm nhân quyền
Ngân hàng Thế giới (World Bank) bị chỉ trích “nhắm mắt” làm ngơ trước các rủi ro đối với nhân quyền trong các dự án ở Việt Nam và nhiều nước.

Trong báo cáo 59 trang công bố hôm 22/7, tổ chức nhân quyền Human Rights Watch (HRW), đặt trụ sở ở Mỹ, dẫn lời chuyên gia cao cấp về các định chế tài chính quốc tế của chính tổ chức này, bà Jessica Evans nói:

“Ngân hàng Thế giới bỏ ra hàng chục tỷ đôla mỗi năm để hỗ trợ các dự án phát triển trên thế giới.
“Nhưng họ cần ngưng làm tổn hại cố gắng của chính bằng cách không góp phần làm tổn hai nhân quyền.”
Báo cáo của HRW nêu ra một trường hợp ở Việt Nam và hai trường hợp tương tự ở Ethiopia để “minh họa cho việc ngân hàng đã không thừa nhận các rủi ro nhân quyền trong các dự án họ tài trợ và không có các biện pháp để giảm thiểu vấn đề.”

‘Cưỡng bức lao động’

Liên quan tới Việt Nam, HRW nói Ngân hàng Thế giới đã cung cấp 1,5 triệu đôla để hỗ trợ các dịch vụ liên quan tới chữa trị các bệnh nhân HIV ở những Trại Cai nghiện trong khuôn khổ của một dự án lớn hơn trị giá 35 triệu đôla trong giai đoạn 2005-2012.
Trong khi đó, HRW nói họ có tài liệu và bằng chứng về chuyện “bắt giữ bừa bãi, cưỡng bức lao động, tra tấn và những cách hành hạ khác ở 14 trại dưới quyền quản lý của thành phố Hồ Chí Minh.”

Không một ai trong số những người mà Human Rights Watch phỏng vấn cho báo cáo năm 2011 được gặp luật sư, thẩm phán hay ra tòa tại bất cứu thời điểm nào cho dù là trước hay trong khi bị giam giữ, và bất chấp quy định về khiếu nại các quyết định hành chính, không ai biết cách để khiếu nại quyết định giam giữ họ trong trại.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền

Tổ chức nói do các luật lệ và nguyên tắc hoạt động của các trại ở thành phố Hồ Chí Minh cũng được áp dụng cho hàng trăm trại khác trên toàn quốc, họ lo ngại rằng những vi phạm nhân quyền cũng diễn ra tại các nơi khác ở Việt Nam.
HRW cáo buộc: “Những người trong trại đã bị giam giữ mà không theo các quy trình đúng đắn và bị cưỡng bức lao động.
“Không một ai trong số những người mà Human Rights Watch phỏng vấn cho báo cáo năm 2011 được gặp luật sư, thẩm phán hay ra tòa tại bất cứu thời điểm nào cho dù là trước hay trong khi bị giam giữ, và bất chấp quy định về khiếu nại các quyết định hành chính, không ai biết cách để khiếu nại quyết định giam giữ họ trong trại.
“Từ chối làm việc hay vi phạm nội quy của trại dẫn tới các hình phạt mà trong một số trường hợp là tra tấn. Một người bị giam giữ nói với Human Rights Watch: “Những người từ chối làm việc bị quản giáo đánh và nhốt vào phòng xử phạt. Cuối cùng họ phải đồng ý làm việc.”
HRW nói có trẻ em mới 12 tuổi cũng bị buộc phải làm việc, bị đánh đập và lạm dụng.

‘Dụng ý xấu’

Tổ chức này cũng nói Giám đốc Ngân hàng Thế giới ở Việt Nam, Victoria Kwakwa, đã có thư phản hồi về các cáo buộc vi phạm nhân quyền trong các trại cai nghiện trong đó viết:
“Chúng tôi chưa từng biết nhân viên Ngân hàng Thế giới nhận được tin tức về vi phạm nhân quyền trong các phòng cai nghiện ma túy mà dự án hỗ trợ.

Trung tâm cai nghiện ma túy ở Ba Vì

Nhiều trại viên trong các trại cai nghiện được cho là bị “cưỡng bức lao động” và thậm chí bị tra tấn

“Nếu chúng tôi biết những chuyện như thế, chúng tôi đã coi đó là trọng tâm của một chuyến thanh tra để đảm bảo rằng các chính sách của Ngân hàng được đáp ứng và bất cứ lo ngại nào cũng được xem xét kỹ lưỡng.”
Mặc dù vậy, HRW nói các trại cai nghiện ở khắp nơi tại Việt Nam đều hoạt động theo những nguyên tắc chung và họ không tin rằng các trại mà Ngân hàng Thế giới trợ giúp đáp ứng các điều kiện về quy trình bắt giữ đúng đắn hay không bị cưỡng bức lao động.
Họ cũng nói Ngân hàng Thế giới tuyên bố đã kết thúc phần dự án liên quan tới chữa trị HIV khi được cung cấp các bằng chứng về vi phạm nhân quyền ở một số trại cai nghiện nhưng chính các tài liệu họ có được trên mạng của Ngân hàng Thế giới lại cho thấy dự án vẫn tiếp tục đến ngày 31/12/2012.
Khi HRW ra báo cáo về các trại cai nghiện hồi năm 2011, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói tổ chức này có “dụng ý xấu” đối với Việt Nam và nói các đưa những người nghiện vào trại là “biện pháp nhân văn”.
Báo cáo lần này của HRW được đưa ra một ngày trước khi Hội đồng Quản trị của Ngân hàng Thế giới có cuộc họp xem xét các chính sách hiện hành.

Anh truy băng ‘buôn nô lệ Việt Nam’ Cập nhật: 09:07 GMT – chủ nhật, 25 tháng 8, 2013


Anh truy băng ‘buôn nô lệ Việt Nam’

Cập nhật: 09:07 GMT – chủ nhật, 25 tháng 8, 2013
Hình từ một tiệm sơn sửa móng tay

Báo Anh nói nhiều người Việt bị làm ‘nô lệ’ trong tiệm sơn sửa móng tay
Bộ trưởng Nội vụ Anh, bà Theresa May tuyên bố hôm 25/8/2013 rằng những kẻ cầm đầu băng đảng buôn người vào Anh Quốc và cưỡng bức họ làm việc như nô lệ “sẽ bị truy bắt và phạt tù nghiêm khắc”.

Phát biểu của bà May được đưa ra sau khi có phóng sự điều tra trên báo Anh, tờ Sunday Times tuần trước về các tiệm làm móng tay của người Việt ở Anh và các vụ cưỡng bức “lao động như nô lệ”.

Vụ việc sau đó được nhiều tờ báo khác ở Anh đăng tải lại và chủ đề phụ nữ Việt “bị cuỡng bức làm nô lệ tình dục” trong các tiệm sơn móng tay (nail shops) được nói đến liên tục.
Các tổ chức chống nô lệ (anti-slavery) ở Anh lên tiếng yêu cầu nhà chức trách phải vào cuộc.

‘Cưỡng hiếp tập thể’

Trong phóng sự hôm 18/8/2013, tờ Sunday Times mô tả câu chuyện rùng mình về một cô gái Việt, gọi là Tan, 15 tuổi được đưa vào một bệnh viện ở miền Bắc nước Anh khi có mang sáu tháng.
Theo bài báo của phóng viên George Arbuthnott, Tan bị bán cho băng đảng ở Hải Phòng rồi được đưa sang Trung Quốc, Nga và bay tới Praha, CH Czech.
Sau đó cô gái được cho lên xe tải chở lậu vào Anh và bị một nhóm đàn ông Việt cưỡng hiếp tập thể, tước đoạt giấy tờ và bắt vào một trại trồng cần sa.
Vì không chịu được mùi cần sa quá nồng cô thậm chí “vui sướng” được cho ra làm ở tiệm sơn móng tay.
Bị nhốt trên tiệm đó, cô ngủ trên nền nhà sau giờ làm việc, không được đi đâu và “thường xuyên bị các nhóm đàn ông đến tiệm cưỡng hiếp”, theo lời kể trong bài báo.

‘Lao động trẻ em’

Bài của tác giả George Arbuthnott còn nói về các đường dây chuyển người từ Việt Nam vào Anh với giá lên tới 23 nghìn bảng và nêu tên một trong số người cầm đầu băng đảng là Vu Van Hanh, hiện đã ra toà ở Northampton.

Theo hai nhà cung cấp hàng cho các tiệm sơn móng ở Anh ước tính thì có tới 100 nghìn người Việt làm nghề này trong 15000 tiệm trong cả nước.

George Arbuthnott

Tuy không nói tất cả các tiệm làm móng tay của người Việt ở Anh có liên quan đến các vụ “lao động cưỡng bức” và “nô lệ tình dục”, bài báo đánh giá tình trạng sinh hoạt của người làm công trong nhiều tiệm là “kinh khủng”.
Ngoài ra bài báo cũng nêu ra sự khác biệt nghiêm trọng giữa các con số để người đọc tự đánh giá số người Việt làm lậu là bao nhiêu:
“Theo hai nhà cung cấp hàng cho các tiệm sơn móng ở Anh ước tính thì có tới 100 nghìn người Việt làm nghề này trong 15000 tiệm trong cả nước. Nhưng con số thống kê chính thức về nhân khẩu lại chỉ cho thấy cả nước Anh chỉ có 29000 người Việt (sinh ra ở Việt Nam) sinh sống trên cả nước.”
Tuần này, vẫn báo Sunday Times tiếp tục chủ đề về người Việt ở Anh Quốc bằng bài về các trại trồng cần sa dùng lao động trẻ em ở Anh.
Bài báo ra ngày 25/8/2013 có tựa đề ‘Beaten, Raped, Starved’ (Bị đánh, hiếp và bỏ đói) nói về tệ nạn cưỡng bức trẻ vị thành niên Việt làm nghề trồng cần sa ở Anh.

Vietnam’s lost children in labyrinth of slave labour By Marianne Brown Hanoi, Vietnam


Vietnam’s lost children in labyrinth of slave labour

Man in a cart behind a buffalo in Dien Bien, Vietnam Trafficking gangs in Dien Bien, one of Vietnam’s poorest provinces, promise to provide work for children but many of the victims are then forced into long hours for little or no pay

Related Stories

Last year, three teenage boys jumped out of a third-floor window in Ho Chi Minh City and ran as fast as they could until they found help. It was one in the morning and they did not know where they were going.

“I was really scared someone would catch us,” recalled Hieu, 18.
Hieu, who did not want to give his real name, is from the Khmu ethnic minority. He grew up in a small village in Dien Bien, a mountainous area in north-western Vietnam, one of the country’s poorest provinces and bordering China.
When he was 16 he had a job making coal bricks in his home village when a woman approached him offering vocational training.

Vietnam Direct graphic
“My parents were happy I could go and earn some money,” he said.

He and 11 other children from his village were taken by bus on a 2,100km (1,300 miles) journey and put to work in Ho Chi Minh City (formerly Saigon), south Vietnam.
They spent the next two years locked in a cramped room making clothes for a small garment factory with no wages.
“We started at 6am and finished work at midnight,” he said. “If we made a mistake making the clothes they would beat us with a stick.”
Prostitution, begging and garment factories Hieu is one of more than 230 child-trafficking victims that the Vietnam-based charity Blue Dragon Children’s Foundation has rescued since 2005.

“Start Quote

When they realise the kids are now slaves in sweatshops, [their parents] want them back”

Michael Brosowski Blue Dragon Children’s Foundation

The charity helps children forced into a variety of jobs from prostitution to begging, but in the past year just over a quarter of that number have been rescued from garment factories in Ho Chi Minh City, the country’s largest metropolis and industrial centre.

Conditions are often harsh.
“Last year we raided one factory. I think 14 people work, sleep, eat in a small room with the machines,” says Blue Dragon’s lawyer. “The factory owner only let them go to the bathroom for eight minutes a day, including brushing your teeth, washing, going to the toilet. ”
The youngest was 11 and most were from ethnic minorities.
“They are taking kids from central and northern Vietnam because they are assuming those kids can’t escape,” said Blue Dragon co-founder Michael Brosowski.
“If they get kids from nearby, those kids can just walk out or walk home.”
Mr Brosowski believes traffickers are targeting more remote areas such as Dien Bien province because communities there do not know about the risks of human trafficking.
Gangs approach local officials pretending to offer jobs or vocational training to children of the poorest families. Many are happy to send the children away.
Some villages Blue Dragon visit are missing dozens of children.
Parents and officials only realise there is a problem when the charity shows them pictures of garment factories they have raided in the past.
“When they realise the kids are now slaves in sweatshops, they want them back,” he said.
Mr Brosowski believes the problem is getting worse, partly because it is so lucrative and other people in the trafficking business want “a piece of the pie”, he said.
It also fits a nationwide trend as the rural poor seek jobs in the city. He does not believe the clothes are produced for export, but cannot say for sure.
‘Tens of thousands of kids and adults’ Tackling external trafficking has long been on the government’s agenda, and Vietnam has been praised for an increase in the number of prosecutions involving overseas gang activity.

A child working in one of the garment factories raided by the Blue Dragon Children's Foundation in Vietnam A child working in one of the garment factories raided by the Blue Dragon Children’s Foundation in Vietnam

1/3
According to official figures, a total of about 7,000 people, 80% of whom are women and children, have been trafficked internationally or domestically since 2005.

Independent experts say the number is likely to be much higher.
Children are taken from all over the country to work in brothels in China, South East Asia and Europe.
China’s one-child policy has also led to a demand for male babies, which is met partly by Vietnamese mothers selling their infants, but there have also been cases of Vietnamese girls being sold to Chinese men to be impregnated.
Young men or boys are also trafficked to the UK to work in cannabis farms.
Government figures do not give the ratio of external and internal trafficking. However, the scale of the problem within the country is only just emerging.
“At any given time there must be tens of thousands of kids and adults in situations they have been trafficked [to, within Vietnam],” an expert who works in the field said on condition of anonymity.
The estimate was accepted as accurate by others who work for organisations with expert knowledge on human trafficking in Vietnam who also did not want to go on the record.
Legal confusion Much of the problem arises because of the legal status of trafficking victims, says Florian Forster, head of the International Office of Migration (IOM) in Vietnam.
“Trafficking across international borders was recognised for a much longer time but internal trafficking has only been officially recognised since 2011. It takes time to implement those things, for the government to spread the message,” he says.
The new law came into effect in January last year but as yet no guidelines exist on how to use it.
Mr Forster says the details are “being worked on” but it “requires training.”
In the meantime, most internal labour traffickers are generally not treated as criminals but are punished with administrative sanctions, such as illegal detention or use of weapons, Vu Thi Thu Phuong, of the United Nations Inter-Agency Project on Human Trafficking (UNIAP), said.
The factory owner who imprisoned Hieu was fined $500 and the factory was closed down, but he did not go to court.
While the government is deciding how to punish internal trafficking, debate continues about the severity of the problem. This is partly because some children receive wages.
“We have come across kids who are paid, and the amount might come to $50 or $100 for a year,” said Mr Brosowski. “Given that the children work 18 hours per day, seven days per week, that money is ridiculously paltry.
“No one is doubting that a girl taken to a brothel in China is extremely severe,” Mr Brosowski said.
“But culturally there’s still a bit of discussion about whether it’s so bad that a child whose family are very poor, doesn’t have enough to eat, has dropped out of school, if he goes to a factory, is that such a bad thing?”
For Hieu at least, the horror of the sweatshop is in the past. He decided not to go back to Dien Bien, and Blue Dragon is helping him train as a mechanic in Hanoi.
“I hope my life will be better and I can help my family,” he said.

Điều tra về ‘nô lệ’ trẻ em ở Việt Nam Marianne Brown Viết từ Hà Nội, Việt Nam


Điều tra về ‘nô lệ’ trẻ em ở Việt Nam

Cập nhật: 13:53 GMT – chủ nhật, 25 tháng 8, 2013
Điện Biên

Điện Biên là nơi có nhiều trẻ em bị đưa đi làm ‘nô lệ’ lao động
Năm ngoái ba thiếu niên đã nhảy khỏi cửa sổ từ tầng ba ở thành phố Hồ Chí Minh và chạy bán sống bán chết cho tới khi thấy người giúp.

Lúc đó mới một giờ sáng và họ không biết phải đi đâu.ả

“Tôi rất sợ là sẽ bị bắt,” Hiếu, năm nay 18 tuổi, nhớ lại.
Hiếu, thanh niên không muốn dùng tên thật, nói anh là người dân tộc Khmu.
Anh lớn lên tại một ngôi làng nhỏ ở tỉnh Điện Biên, một trong những tỉnh nghèo nhất của Việt Nam, giáp ranh với Trung Quốc.
Năm lên 16, anh làm nghề đúc than gạch trong làng khi có phụ nữ tới mời đi học nghề.
“Bố mẹ tôi rất vui vì tôi có thể đi kiếm tiền,” anh nói.
Anh và 11 thiếu niên cùng làng khác đã được chở bằng xe buýt vượt qua chặng đường 2.100 km vào thành phố Hồ Chí Minh.
Trong hai năm sau đó, họ bị khóa trái trong căn phòng chật hẹp và phải may quần áo không lương cho một công ty may nhỏ.
“Chúng tôi bắt đầu từ sáu giờ sáng và kết thúc lúc nửa đêm,” anh nói. “Nếu chúng tôi may có lỗi, họ sẽ dùng roi đánh.”

Mại dâm, ăn xin và xưởng may

Hiếu là một trong số 230 nạn nhân của tệ buôn trẻ em mà Quỹ Trẻ em Blue Dragon ở Việt Nam đã giải cứu từ năm 2005.
Quỹ cứu giúp trẻ em bị buộc phải làm đủ việc từ mại dâm tới ăn xin nhưng trong năm ngoái hơn 25% trẻ em được giải cứ từ các xưởng may ở thành phố Hồ Chí Minh.

Một xưởng may chui

Điều kiện làm việc tại các xưởng may thường khắc nghiệt

Điều kiện làm việc thường rất khắc nghiệt.
“Năm ngoái chúng tôi đột nhập vào một xưởng may. Tôi thấy 14 người ăn, ngủ và làm việc trong một phòng nhỏ với nhiều máy may,” mốt luật sư của Blue Dragon kể lại.
“Chủ xưởng chỉ cho họ đi vào nhà tắm tám phút mỗi ngày, bao gồm cả đánh răng, rửa ráy và đi vệ sinh.”
Em nhỏ nhất 11 tuổi và hầu hết đều là người dân tộc thiểu số.
“Họ bắt trẻ em từ miền trung và miền bắc vì nghĩ rằng các em không thể trốn được,” ông Michael Brosowski, người đồng sáng lập Blue Dragon cùng luật sư Vân nói.
“Nếu họ bắt trẻ em ở gần đó, các em có thể bỏ đi hoặc tìm về nhà.”
Ông Brosowski tin rằng những kẻ buôn người nhắm tới những vùng hẻo lánh như Điện Biên vì người dân tại những nơi đó không ý thức được về nguy cơ buôn người.

Các băng đảng thường tới gặp quan chức địa phương và đề nghị dạy nghề cho trẻ em của những gia đình nghèo nhất.
Một số làng mà Blue Dragon tới thăm cũng có hàng chục trẻ em mất tích.

Khi biết con cái mình đang bị bóc lột sức lao động, họ muốn đón con về.

Michael Brosowski, đồng sáng lập viên của Quỹ Trẻ em Blue Dragon

Các phụ huynh và quan chức địa phương chỉ ý thức được vấn đề khi xem ảnh chụp từ các vụ đột nhập những nhà máy may của Blue Dragon.
“Khi biết con cái mình đang bị bóc lột sức lao động, họ muốn đón con về,” ông Brosowski nói.
Người đồng sáng lập Quỹ Blue Dragon tin rằng vấn đề ngày càng trầm trọng vì nó sinh lời tới mức những kẻ khác trong các đường dây buôn người cũng muốn ‘chia phần’.
Nó cũng phản ánh trào lưu người nghèo ở nông thôn ra thành phố kiếm việc làm ở Việt Nam nói chung.
Ông Brosowski không cho rằng các sản phẩm may mặc mà các thiếu niên bị buộc phải sản xuất được đem đi xuất khẩu dù ông không thể khẳng định hoàn toàn như vậy.

‘Hàng chục ngàn trẻ em và người lớn’

Xử lý tệ buôn người đã nằm trong chương trình nghị sự của chính phủ Việt Nam từ nhiều năm nay và nước này từng được khen ngợi vì số vụ xử liên quan tới các băng đảng ở nước ngoài.

Xưởng may chui

Có ước tính cho thấy hàng chục ngàn trẻ em và người lớn bị buôn ở trong nước

Theo các số liệu chính thức, khoảng 7.000 người trong đó 80% là phụ nữ và trẻ em, là nạn nhân của tình trạng buôn người ở trong nước và ra nước ngoài.
Các chuyên gia độc lập nói con số thực tế có thể cao hơn nhiều.
Trẻ em được đưa từ mọi vùng tới làm việc ở các nhà thổ tại Trung Quốc, Đông Nam Á và châu Âu.
Chính sách một con ở Trung Quốc cũng làm nảy sinh nhu cầu có các bé trai, vốn chủ yếu được đám ứng bởi các bà mẹ Việt Nam bán con, nhưng cũng có những trường hợp các cô gái Việt Nam bị đưa sang Trung Quốc để sinh con cho họ.
Đàn ông và nam thanh niên cũng bị đưa sang Anh để trông coi cần sa.
Số liệu của chính phủ không phân biệt buôn người trong nước và quốc tế nhưng tầm vóc của vấn đề trong nước mới vừa lộ ra.
“Vào bất kỳ thời điểm nào cũng có khoảng hàng chục ngàn trẻ em và người lớn ở trong cảnh ngộ do buôn người dẫn tới [ở trong Việt Nam],” theo một chuyên gia muốn ẩn danh.
Ước tính này cũng được những người làm việc cho các tổ chức có chuyên môn về tệ buôn người đồng tình nhưng họ cũng không muốn xuất hiện công khai.

Luật lệ rối rắm

Phần lớn của vấn đề nằm ở tình trạng pháp lý của các nạn nhân buôn người, theo lời ông Florian Forster, người đứng đầu Văn phòng Di trú Quốc tế IOM ở Việt Nam.

Buôn người xuyên biên giới đã được công nhận từ lâu nhưng buôn người trong nước mới chỉ được chính thức công nhận kể từ năm 2011.

Florian Forster – Văn phòng Di trú Quốc tế ở Việt Nam

“Buôn người xuyên biên giới đã được công nhận từ lâu nhưng buôn người trong nước mới chỉ được chính thức công nhận kể từ năm 2011.
“Cần có thời gian để thực thi luật và để chính phủ công bố luật mới,” ông nói.
Luật mới đã có hiệu lực từ tháng Một năm ngoái những cho tới giờ vẫn chưa có hướng dẫn thực thi luật.
Ông nói các chi tiết vẫn đang được “cân nhắc” và cũng còn cần có đào tạo.
Trong khi đó hầu hết các vụ buôn lao động trong nước thường không được coi là tội phạm mà chỉ bị phạt hành chính, chẳng hạn giữ người trái phép hay sử dụng vũ khí, theo bà Vũ Thị Thu Phương từ Dự án liên các tổ chức Liên Hiệp Quốc về phòng chống buôn người UNIAP.
Chủ nhà máy giam cầm Hiếu bị phạt 500 đô là và nhà máy bị đóng cửa nhưng ông không phải ra tòa.
Trong khi chính quyền còn đang quyết định sẽ trừng phạt những kẻ buôn người trong nước thế nào thì cũng đang có tranh luận về mức độ trầm trọng của vấn đề, một phần vì có những trẻ em được trả lương.
“Chúng tôi cũng gặp những em được trả từ 50-100 đô la một năm,” ông Brosowski nói.
“Các em phải làm việc 18 giờ mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần và số tiền đó thật đãi bôi.

Trại may ở Việt Nam

Việt Nam thường chỉ phạt hành chính chủ lao động giam giữ trẻ em

“Không ai nghi ngờ rằng chuyện các em gái bị đưa sang các nhà thổ ở Trung Quốc là nghiêm trọng.
“Nhưng về mặt văn hóa người ta vẫn bàn bạc về chuyện liệu có phải là điều tồi tệ đến thế không khi trẻ em của một gia đình nghèo, thiếu ăn, phải bỏ học và nay đi làm ở xưởng may.”
Ít nhất đối với Hiếu, cảnh rùng rợn ở trại lao động đã lùi vào dĩ vãng.
Anh quyết định không trở lại Điện Biên và Blue Dragon đang giúp anh trở thành thợ cơ khí ở Hà Nội.
“Tôi hy vọng cuộc sống của tôi sẽ khá lên và tôi có thể giúp gia đình,” anh nói.
Bản Bấm tiếng Anh của tác giả Marianne Brown đã đăng trên BBC News Online.

Lê Hiếu Đằng, quy luật thoái đảng và “cơn lên đồng tập thể” Published on Saturday, August 31, 2013 8:00 PM // Bình luận, Tin mới Phạm Chí Dũng – RFA


Lê Hiếu Đằng, quy luật thoái đảng và “cơn lên đồng tập thể”

Published on Saturday, August 31, 2013 8:00 PM // ,
Thay phản biện xã hội và đấu tranh cho công bằng của người nghèo bằng những giáo điều chính trị, đổi chỗ đứng trong lòng dân lấy vị trí xếp hạng trên ngực Đảng, nhiều tờ báo Việt Nam không chỉ chịu chung tình cảnh bị định hướng như Trung Quốc mà còn đang tự sa chân vào chế độ “t,ự kiểm duyệt”.
Cân bằng lực lượng
Chỉ ít ngày sau sự kiện nữ sinh áo trắng Phương Uyên được trả tự do ngay tại tòa, danh giá của giới truyền thông xã hội Việt Nam lại một lần nữa được báo đảng tôn vinh nhiệt liệt.

Nhưng còn hơn cả thế, tháng 8/2013 đánh dấu lần đầu tiên mối tương quan lực lượng giữa truyền thông xã hội với các báo “Lề đảng” giao thoa nhau tại một điểm được xem là tạm cân bằng, khác biệt với thế so le trong sự kiện “Kiến nghị 72” và khác hẳn tư thế lắng tiếng của “Lề dân” vào những năm trước.
Cũng khởi xướng từ trang mạng Bauxite Vietnam như đã từng với “Kiến nghị 72”, hai bức thư của hai nhân vật cứng rắn trong phong trào Lực lượng Ba ở Sài Gòn trước năm 1975 – “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” của ông Lê Hiếu Đằng, và ông Hồ Ngọc Nhuận với “Phá xiềng” – đã như quá đủ để lôi kéo một chiến dịch công kích tổng lực của hầu hết các báo đảng danh giá nhất như Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Đại Đoàn Kết ở Thủ đô, và cả vài tờ báo quốc doanh thiếu sâu sắc chuyên môn về “phản tuyên truyền” như Tuổi Trẻ và Người Lao Động ở TP.HCM.
Không quá khó khăn để mặc định não trạng của những tờ báo đảng có bề dày thành tích nhất trong cuộc chiến “Phòng, chống diễn biến hòa bình”, khá dễ để lý giải về một diễn biến hòa bình mang tính “kiên định đột biến” của báo Tuổi Trẻ sau khi toàn bộ ban biên tập cũ đã được “thay gen” bởi đội ngũ “cánh tay phải của đảng”, còn một thư ký tòa soạn cũ lại được điều đi “học tập”… Nhưng lại quá khó để hình dung về một tờ báo như Người Lao Động khi nơi đây hiện lên những “phán quyết” sắt máu nhất: “Lẽ ra ông Lê Hiếu Ðằng nên hiểu rằng nếu muốn thành lập một đảng chính trị ở Việt Nam thì nhất thiết phải dựa trên những quy định của pháp luật. Còn hành động “ôn hòa, bất bạo động” cũng không chứng minh rằng đó là những hành vi không vi phạm pháp luật, chẳng hạn, điều 88 Bộ Luật Hình sự quy định: “Tội tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam””.
Lòng dân hay ngực Đảng?
Trong tâm tưởng nhiều người dân và cả cán bộ đảng viên, Người Lao Động là một trong những tờ báo có tính phản biện và chiến đấu cao nhất liên quan đến sự kiện lịch sử “người nông dân nổi dậy” Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng. Hoàn toàn xứng đáng với sứ mệnh của mình, tờ báo này đã tung cả một ê kíp phóng viên điều tra vào cuộc, đã làm rõ trách nhiệm của chính quyền huyện Tiên Lãng và của cả Công an Hải Phòng trong cách đã đẩy người nông dân vào tình cảnh mất đất và cùng đường đến mức nào.
Vào đầu năm 2013, khi nổ ra vụ việc hàng trăm người biểu tình trước trụ sở tuần báo Nam Phương Chu Mạtở Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc để phản đối chế độ kiểm duyệt báo chí, Người Lao Độngcũng là một trong những tờ báo Việt Nam dụng tâm đưa tin và bình luận sớm nhất.
Số là nhân dịp năm mới, tuần báo Nam Phương Chu Mạt có bài viết “Giấc mơ chính thể lập hiến tại Trung Quốc” để bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. Thế nhưng một quan chức của tỉnh Quảng Đông đã kiểm duyệt, rút bỏ bài báo này và thay vào đó là một bài viết hoàn toàn mờ nhạt.
Điều bị coi là dối trá và hèn nhát này đã làm dấy lên một làn sóng phản đối từ một bộ phận các nhà báo trong ban biên tập tuần báo Nam Phương Chu Mạt. Họ ra một tuyên bố lên án hành động can thiệp, kiểm duyệt trên. Bản tuyên bố của các nhà báo thuộc Nam Phương Chu Mạt đã lan truyền nhanh chóng trên internet, bất chấp sự kiểm duyệt.“Chúng tôi muốn tự do báo chí, tôn trọng Hiến pháp và dân chủ” – những người biểu tình đã tụ tập và giương cao biểu ngữ.
Nhưng ngay sau đó, một chi nhánh của Nhân Dân nhật báo là Hoàn Cầu thời báo đã tuyên bố: “Không quan trọng việc người dân có sung sướng hay không (với việc kiểm duyệt), suy nghĩ chung là không thể có loại truyền thông tự do mà họ mơ ước với thực tế chính trị và xã hội hiện nay ở Trung Quốc”.
Trong giai đoạn 2011 – 2012, Tổ chức Phóng viên không biên giới đã xếp Trung Quốc đứng hàng thứ 174 trên tổng số 179 quốc gia về quyền tự do báo chí. Còn Việt Nam cũng nhận được vị trí rất “láng giềng” với người bạn có tên “Bốn Tốt” của mình.
Thay phản biện xã hội và đấu tranh cho công bằng của người nghèo bằng những giáo điều chính trị, đổi chỗ đứng trong lòng dân lấy vị trí xếp hạng trên ngực đảng, nhiều tờ báo Việt Nam không chỉ chịu chung tình cảnh bị định hướng như Trung Quốc mà còn đang tự sa chân vào chế độ “tự kiểm duyệt”.
“Cơn lên đồng tập thể”
Sau sự kiện “Kiến nghị 72” vào quý đầu năm 2013, một lần nữa người dân trong nước và kiều bào người Việt ở nước ngoài được chứng kiến cuộc bút chiến giữa hai bờ xa cách.
Hình ảnh xa cách đó cũng phản chiếu một sự chênh lệch thường thấy: “tỷ lệ chọi” là 6/1, tức 6 tờ báo quốc doanh phản chiến chỉ một trang Bauxite.
Chỉ một nhóm trí thức nhỏ bé như Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng của Bauxite phải chịu sự thách đấu của một lực lượng hùng hậu các nhà báo chìm nổi và những chính khách chưa bao giờ xuất đầu lộ diện.
Hiện tượng “Những con chim ẩn mình chờ chết” cũng lộ ra với một phát hiện xao xuyến của blog Tâm sự y giáo: thông qua những dẫn cứ đủ thuyết phục, blog này chứng minh tác giả xưng danh việt kiều Mỹ Amari TX trên báo Nhân Dân và tác giả Hoàng Văn Lễ trên báo Sài Gòn Giải Phóng – cùng chỉ trích ông Lê Hiếu Đằng – rất có thể chỉ là một người.
Nếu có thể nói thêm về danh xưng, ông Hoàng Văn Lễ chính là nguyên tổng biên tập của Sổ tay Xây dựng đảng – một cơ quan phát ngôn “đậm đà bản sắc dân tộc” của Ban tuyên giáo thành ủy TP.HCM.
Xã hội Việt Nam cũng đang chứng kiến cùng lúc hai hiện tượng chuyển mùa thú vị: một hiện thực thuộc về Lê Hiếu Đằng và một hướng đến tâm linh, “cơn lên đồng tập thể” – cụm từ mà Lê Hiếu Đằng điểm chỉ chiến dịch “đánh đòn hội chợ” của một số tờ báo đảng và báo quốc doanh, thể hiện qua bức thư ngỏ mới đây của ông đăng trên trang mạng Bauxite Vietnam.
Tuy thế, hàm số ngược lại hiện ra ở nơi tưởng như chênh biệt ghê gớm nhất: giới truyền thông xã hội ở Việt Nam đang có khá đủ lý do để tự hào về quá trình tích lũy của họ, đủ khiến tạo nên một sang chấn thần kinh bất thường cho cả Ban Tuyên giáo trung ương lẫn đường lối đối ngoại của Trung ương đảng.
Hiện tượng bất thường cũng liên quan đến một chủ đề “thần kinh” khác: xu hướng thoái đảng đang ngày càng diễn ra trên diện rộng, để cứ với đà này thì có thể xảy ra hiện tượng xã hội học về “thoái đảng” một cách sâu sắc.
Quy luật thoái đảng
Vào tháng 5/2013, một phụ trương của tờ Nhân Dân nhật báo ở Bắc Kinh đã lần đầu tiên đưa ra đề nghị chỉ cần giữ lại 30 triệu đảng viên trong tổng số hơn 80 triệu tấm thẻ đảng hiện thời.
Với mối quan hệ “nhân quả” giữa Trung Quốc và Việt Nam từ nhiều năm qua, giới phân tích xã hội học dĩ nhiên có thể nhận thấy tình trạng bị xem là “đảng viên suy thoái về đạo đức và lối sống” giữa hai quốc gia này là không quá khác biệt, và hệ quả này hoàn toàn có thể dẫn tới giả định ban đầu về một tỷ lệ chỉ 30% hoặc chưa tới con số đó là số đảng viên được xem là “trung thành” đối với chính đảng cầm quyền ở Việt Nam hiện nay.
Thế nhưng cũng không phải tỷ lệ 70% hoặc hơn các đảng viên còn lại đều bị suy thoái đạo đức. Rất nhiều dư luận đã công phẫn lên án chỉ có một bộ phận trong đó, tuyệt đại đa số là giới quan chức, mới là những kẻ suy thoái đạo đức thực chất. Nhưng ngược lại, những người bị xem là suy thoái về tư tưởng lại là những đảng viên có biểu hiện “lãn công” hoặc “đình công” trong sinh hoạt đảng tại cơ quan và chủ yếu tại các địa phương. Một số chi bộ địa phương đã cho rằng nếu tính đúng thì phải có đến phân nửa số đảng viên “thoái đảng” như thế.
Không khí ở Việt Nam vào thời gian này cũng khiến không ít người là du học sinh ở Liên Xô trước năm 1990 hoài niệm về những biến động trước sự sụp đổ hoàn toàn của Liên bang Xô viết.
Một bài nghiên cứu trên báo Nhân Dân của chính đảng cầm quyền ở Việt Nam đã phải thừa nhận thực trạng: Năm 1991, trong số hàng vạn triệu phú ở Moscow, đại bộ phận nguyên là những cán bộ làm việc trong các cơ quan đảng, chính quyền. Kết quả điều tra tiến hành trong tháng 6 năm đó cho thấy, trong tầng lớp cán bộ cao cấp Liên Xô có tới 76,7 % số người cho rằng nên đi theo con đường tư bản. Bọn họ không chỉ vơ vét cho đầy túi tham mà còn tiếp tục nắm giữ những cương vị cao, kiểm soát quyền lực của nhà nước… Trước khi Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ không lâu đã có một cuộc điều tra dân ý về chủ đề: “Đảng Cộng sản Liên Xô đại diện cho ai?”. Kết quả là, số người cho rằng Đảng Cộng sản Liên Xô đại diện cho nhân dân Liên Xô chiếm 7%, đại diện cho công nhân chiếm 4%, đại diện cho toàn thể đảng viên chiếm 11%. Trong khi đó, có tới 85% số người được hỏi cho rằng: Đảng Cộng sản Liên Xô đại diện cho quan chức, cán bộ và nhân viên nhà nước.
Còn với hiện tình Việt Nam thì sao?
“Sự phản bội toàn diện”
Nhiều người dân Việt lại luôn đau đáu: chính đảng cầm quyền tại đất nước này đang đại diện cho ai?
Không có câu trả lời công khai nào trên báo chí quốc doanh, và càng không thể có thống kê nào trong các báo cáo tuyên giáo về những tỷ lệ bất mãn và phản ứng của người dân và đảng viên. Thế nhưng những ngày gần đây đã rải rác trên vài ba tờ báo có tính phản biện một gợi mở về những nhóm lợi ích chính trị nào đó đang thao túng chính sách để bảo vệ “quyền lợi giai cấp”.
Người viết bài đã có dịp gặp Lê Hiếu Đằng và thấu cảm người cựu tử tù này không phải là một kẻ cực đoan như những người đòi áp dụng điều luật 88 đối với ông thường mô tả. Ngược lại, ông là người ôn hòa và chỉ mong muốn loại trừ các nhóm lợi ích chính trị và tài phiệt đang lũng đoạn đất nước, tránh cho quốc gia vong thân bởi một cơn can qua máu đổ trong tương lai gần. Lê Hiếu Đằng còn thật lòng lo ngại việc một số thanh niên quá sốt ruột mà có thể sẽ “đốt cháy giai đoạn” và tạo nên xung khắc đối đầu với thể chế, dẫn tới tình trạng bắt bớ và bị đàn áp…
Những ngày qua, trước mọi biểu hiện diễn biến của “cơn lên đồng tập thể”, trong một cảm nhận sâu xa và rõ rệt nhất, Lê Hiếu Đằng vẫn bình thản đón nhận. Ông chỉ có tâm nguyện muốn nói lên sự thật và làm thay đổi sự thật đó. Một đảng mới cần hình thành chỉ nhằm tạo nên đối trọng cho sự thay đổi trong một xã hội sắp cùng quẫn, chứ chẳng phải muốn “lật đổ” ai cả.
Và một điều kỳ diệu là chính cái sự thật bị nhà đấu tranh nhân quyền Lê Hiền Đức ở Hà Nội coi là “sự phản bội toàn diện” lại đang khiến cho Lê Hiếu Đằng khỏe hẳn, như thoát khỏi cơn bạo bệnh đang rắp tâm hành hạ ông…
P.C.D.
*Bài viết do TS Phạm Chí Dũng gửi RFA từ Việt Nam. Nội dung không phản ảnh quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

Bầu cử thật Đảng CS ‘vẫn có thể thắng’, Published on Monday, August 26, 2013 4:12 PM // Bình luận, Tin mới BBC Tiếng Việt


Bầu cử thật Đảng CS ‘vẫn có thể thắng’

Published on Monday, August 26, 2013 4:12 PM // ,
BBC Tiếng Việt – Lời kêu gọi thành lập một đảng mới, Đảng Dân chủ Xã hội, do nhóm của luật gia Lê Hiếu Đằng, một đảng viên cộng sản lâu năm, khởi xướng đã gây ra những tranh luận nhiều chiều trong những ngày qua.
Ông Lê Hiếu Đằng, trong cuộc trả lời phỏng vấn BBC hôm 21/8/2013 đã phản hồi lại các ý kiến nhiều chiều như của Giáo sư Vũ Minh Giang, hay bài viết của người có bút danh Trọng Đức trên tờ Quân Đội Nhân Dân:
Luật gia Lê Hiếu Đằng: Là người nằm trong hệ thống chính trị lâu năm, trên 45 tuổi đảng, và làm ở Hội đồng nhân dân thành phố nhiều năm, tôi có kinh nghiệm về vấn đề này. Như trong bài tôi mới viết “Những điều cần nói rõ thêm”, thật ra một số đảng viên, một số người có tấm lòng, người ta rất cố gắng để làm sao cho Đảng tự thay đổi. Và đây là phương án tốt nhất.

Tôi có nhắc tới kinh nghiệm khi ông Lê Quang Đạo làm Chủ tịch Mặt trận cũng như là ông Phạm Văn Kiết làm Tổng thư ký, ông chỉ đề xuất ý tưởng Mặt trận là đối trọng để giám sát chính quyền. Hoặc khi ông Phạm Thế Duyệt là Chủ tịch Mặt trận cũng đưa ra đề án về vai trò giám sát của Mặt trận, trình lên Ban Bí thư, nhưng cuối cùng thì Ban Bí thư cũng lờ luôn cùng với việc lập hội. Sau đó biết bao nhiêu người, tướng lãnh thì ví dụ như ông Trần Độ, ông Đặng Quốc Bảo, ông Trần Vĩnh, nhiều người lắm.
Quan chức chính quyền thì có nguyên ủy viên Bộ Chính trị và Chủ tịch Quốc hội là ông Nguyễn Văn An cũng có những góp ý rất chân tình. Ví dụ ông An nói thực chất đây là lãnh đạo tập thể nhưng thực ra là mua tập thể, ông có nói những ý đó thì cũng không ai nghe hết.
Thành ra đã đến lúc tôi thấy rằng nếu cứ cái kiểu hy vọng một cách hão huyền tự bản thân thay đổi thì tôi nghĩ là rất khó, vì nói thật bây giờ nhà nước VN đã bị tha hóa, ở chỗ nó trở thành những tập đoàn lợi ích, lũng loạn nhà nước rồi. Do đó khó mà họ từ bỏ vị trí, địa vị hiện nay.
Vì vậy quan điểm của chúng tôi là bây giờ phải có một xã hội công dân với những tổ chức thực sự thay mặt cho người dân để giám sát một cách có hiệu quả chính quyền. Như các nước trong xu thế hiện nay trên thế giới cũng vậy. Do đó mà chúng tôi chủ chương là phải có những lực lượng đối lập thực sự.
Tôi nghĩ đây cũng là điều bình thường. Chữ đối lập đây không có nghĩa là mình bài bác gì đảng Cộng sản. Bản thân tôi là đảng viên đảng Cộng sản lâu năm mà. Nhưng chính cái đó là cái giúp cho đảng một lối thoát. Và đảng phải thông qua đấu tranh bằng bầu cử tự do, bỏ phiếu kín và nếu đảng giành được quyền lãnh đạo thì mới là chính danh và sự lãnh đạo của đảng mới là hợp pháp.
Còn bây giờ nói thật ra cái chủ trương không đa nguyên là chủ trương của đảng thôi. Như tôi đã nói, chưa có văn bản luật pháp nào cấm đa nguyên đa đảng. Mà theo nguyên tắc pháp lý cái gì nhà nước không cấm thì dân có quyền làm. Dân người ta có quyền sử dụng cái quyền công dân của người ta để người ta làm những việc đó.
BBC: Nhưng như Giáo sư Vũ Minh Giang thì hiện nay chưa có cơ sở pháp lý nào cho phép việc thành lập chính đảng mới tại Việt Nam. Như vậy có đúng không thưa ông? Ông thì vừa nói là không có điều nào cấm không cho thành lập đảng?
Luật gia Lê Hiếu Đằng: Hoàn toàn không đúng bởi vì cơ sở pháp lý là gì? Tức là không có văn bản nhà nước cấm đa nguyên đa đảng thì người dân có quyền thành lập những đảng, những lực lượng chính trị độc lập, song song cùng tồn tại với đảng Cộng sản chứ không bài bác gì đảng Cộng sản và như vậy nó phù hợp với luật pháp chứ tại sao không có cơ sở pháp lý?
Thí dụ nhà nước cấm thì thôi mình không làm. Nhưng nhà nước không cấm thì mình làm. Bây giờ có tình trạng một số trí thức sợ một cách quá đáng. Tại sao em Phương Uyên, một cô gái 21 tuổi trước tòa em công khai nói những điều chống Trung Quốc? Với phong trào đấu tranh quần chúng thì cuối cùng buộc lòng họ cũng phải tha em, 6 năm quản chế nhưng mà được tha ngay tại tòa. Thế tại sao một số nhân sĩ trí thức cho đến bây giờ vẫn cứ sợ hãi là sao?
Rõ ràng tình hình bây giờ đã chín muồi rồi. Tình hình kinh tế, xã hội, tất cả các lĩnh vực xuống cấp nghiêm trọng. Phải thấy là trách nhiệm của nhân sĩ trí thức Việt Nam là do anh thụ động, do anh thủ tiêu đấu tranh cho nên tình hình mới tồi tệ như hiện nay, để đảng Cộng sản muốn làm gì thì làm. Thì bây giờ anh phải thức tỉnh chứ.
Quá khứ đã qua rồi. Nhưng bây giờ có những điều kiện để nhận thức lại tình hình thì phải nhận thức lại, và từ nhận thức lại thì phải có hành động, chứ khoanh tay ngồi chờ sao? Giờ có những lực lượng xâm nhập vào đất Việt, nó phá kinh tế của mình, nó phá nhiều cái. Có những nguy cơ như vậy, nhất là ở bên cạnh một nhà nước bành trướng, có thể nói là vốn có truyền thống bành trướng, không bao giờ thay đổi bản chất.
Bây giờ nó triển khai lực lượng trên các vùng rừng núi Tây nguyên, ngay cả ở Cà Mau. Kinh tế thì nó khống chế, hàng gian, hàng giả, đủ thứ chuyện, nguy cơ đe dọa như vậy. Tình hình đối đầu rất là nguy cấp. Nếu mà người dân, nhất là nhân sĩ trí thức không dám nói tiếng nói của mình thì sẽ để cho chính quyền muốn làm gì thì làm và như vậy những hy sinh xương máu của biết bao nhiêu người trong đó có bạn bè chúng tôi trở nên vô ích.
Vì chúng tôi khi đi đấu tranh, ngoài đấu tranh giành độc lập, thống nhất lãnh thổ rồi, thì hy vọng là có một chính quyền tốt đẹp hơn trước. Nhưng bây giờ tính về mọi mặt thì so ra còn tệ hơn nữa. Thành ra chúng tôi nghĩ đây là lúc trí thức phải đứng ra nhận trách nhiệm của mình. Và từ đó số anh chị em trẻ người ta đã hăng hái tham gia sẽ có chỗ dựa cho người ta đi lên.
BBC: Liệu lời kêu gọi của ông như vậy có thể trở thành hiện thực hay không? Và muốn trở thành hiện thực thì phải có những yếu tố gì thưa ông?
Luật gia Lê Hiếu Đằng: Tôi cho là trong tình hình hiện nay nhiều anh em rất là ủng hộ, đến gặp tôi hoặc qua điện thoại, rất chia sẻ. Nếu có ý kiến nào, ví vụ như tờ Quân đội nhân dân có đăng ý kiến một cái ông đó, thì người ta phản bác lại ngay. Nói chung là người ta đồng tình với đề xuất của chúng tôi. Còn tôi chỉ là người đề xuất, còn làm thì phải rất nhiều người cùng làm và làm cái này thì phải có một quá trình chứ không thể ngày một ngày hai mà làm được. Việc hình thành xã hội công dân phải là một quá trình hết sức khó khăn.
BBC: Hôm nay trên báo Quân đội nhân dân có một bài ký tên là Trọng Đức trong đó có họ nói ông dùng “bức tử” là không có đúng vì “những đảng đã giải tán tại Việt Nam trước đây đều là do tự giải tán sau khi hoàn thành sứ mệnh của mình. Đảng Cộng sản Việt Nam không hề có hành động gì gọi là bức tử những đảng đó cả” thì ông nghĩ sao về lập luận này của tác giả Trọng Đức?
Ảnh: Các lãnh đạo cộng sản Hoàng Quốc Việt, Võ Chí Công, Song Hào và Trần Nam Trung (Mặt trận Giải phóng) cùng ông Nghiêm Xuân Yêm, Tổng thư ký đảng Dân chủ hôm 20/11/1975 ở Sài Gòn >>
Luật gia Lê Hiếu Đằng: Tôi là người trong Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ Miền Nam, tức là bên cạnh Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Tôi quen rất nhiều anh là đảng viên đảng Dân chủ và đảng Xã hội trước đây.
Thí dụ anh Huỳnh Văn Tiểng, hay bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng, những người của đảng Dân chủ. Tôi đã đi công tác nước ngoài với đoàn của ông Nghiêm Xuân Yêm. Bức tử tức là người ta đề nghị phải giải tán chứ thực ra các ông đâu có muốn giải tán nhưng sự thực như vậy đó.
Người ta buộc phải giải tán với danh nghĩa là hoàn thành nhiệm vụ. Cũng như trước đây tờ Tin Sáng cũng vậy. Sau giải phóng có tờ Tin Sáng của anh Hồ Ngọc Nhuận thì cuối cùng tồn tại được mấy năm rồi cũng dẹp luôn. Vì thế tôi dùng từ “bức tử” là rất là đúng.
Nhưng tất nhiên nhà nước mình đâu có thể nói là họ bức tử mà họ phải nói là hai đảng đó tự giải tán. Tôi cho là thực ra chỉ là cách nói giả dối và không lừa được ai.
BBC: Nếu bây giờ những đảng cũ đó muốn đứng ra để thành lập lại, hoặc như theo lời kêu gọi của ông, thì làm sao thành lập được một đảng phái khác có thể hoạt động được để trở thành một đảng đối lập tại Việt Nam thưa ông?
Luật gia Lê Hiếu Đằng: Vấn đề ở chỗ là cơ sở pháp lý nhà nước không cấm thì mình không phải là khôi phục lại hai đảng cũ mà là một đảng Dân chủ Xã hội mới. Việc thành lập này nó có thuận lợi là hiện nay hệ thống đảng Dân chủ Xã hội là trên phạm vi toàn thế giới.
Khuynh hướng dân chủ xã hội là khuynh hướng tiến bộ hiện nay. Nó hạn chế những mặt tiêu cực của chủ nghĩa tư bản và nó đấu tranh vì dân quyền, nhân quyền và bảo vệ môi trường. Tôi nghĩ đó là con đường phải đi.
Nhiều năm bàn về việc thành lập đảng thì nhà nước không chịu. Tôi cho là nhiều anh em nghĩ là thôi, mình thành lập một phong trào, chẳng hạn như Phong trào vì một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh và tiến bộ xã hội. Dưới dạng một phong trào, cái gì cũng được miễn là có một lực lượng của nhân dân thực sự đứng ra giám sát chính quyền. Chứ còn Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể hiện này là không thể giám sát được vì đó là công cụ của đảng Cộng sản.
BBC: Cũng trong bài viết của mình, ông Trọng Đức có viết “Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn đảng Cộng sản là người lãnh đạo duy nhất của mình”. Vậy ông nghĩ sao về ý kiến này trong khi ông cho rằng nên thành lập cả các đảng khác nữa. Vì nếu như theo ông Trọng Đức nói thì nhân dân chọn là chỉ có một đảng thôi?
Luật gia Lê Hiếu Đằng: Nói nhân dân chọn sự lãnh đạo của đảng thì cũng đúng trong thời kỳ kháng chiến. Vì trong thời kỳ kháng chiến thực ra người ta cũng không có nghĩ là theo đảng mà người ta nghĩ là đi kháng chiến chống lại thực dân Pháp và sau này người ta hy vọng là sau khi thắng lợi rồi thì xây dựng tốt đẹp hơn cũ. Nhưng tình hình không phải như vậy.
Ngay hiến pháp và tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước Ba Đình thì những điều đó bây giờ bị rơi vãi, không nói là xóa bỏ hết các quyền tự do dân chủ của người dân.
Mục tiêu của cuộc cách mạng bây giờ không còn nữa vì vậy đảng Cộng sản không còn là đảng cách mạng như trước. Thành ra trước đây người ta theo đảng Cộng sản với tư cách là đảng cách mạng nhằm lãnh đạo cuộc kháng chiến.
Nhưng bây giờ đảng Cộng sản đang trở thành một sức ngăn trở sự phát triển của đất nước và xã hội. Thế tại sao lại nói là được nhân dân ủy nhiệm? Anh muốn nói là được nhân dân ủy nhiệm thì ở một đất nước hòa bình chỉ việc thông qua một cuộc bầu cử hợp pháp có sự tham gia giám sát của một lực lượng quốc tế.
Thực ra bây giờ không có lực lượng nào mạnh bằng đảng Cộng sản. Nếu bầu cử tự do thật sự thì đảng Cộng sản với hệ thống chính trị của mình ở tận cơ sở như vậy thì vẫn có thể thắng lợi. Có thể mấy chục phần trăm đó nhưng vẫn là một đảng cầm quyền và như vậy lúc đó có chính danh.
Như thế là có một cơ chế dân chủ, và lực lượng đối lập trong một xã hội công dân sẽ ngày càng phát triển, và sẽ đến lúc nó lớn dần lên. Cũng như ở các nước thực ra chỉ cần hai đảng, còn mấy đảng nhỏ. Tôi nghĩ như vậy là quy luật phát triển tất yếu của tất cả các nước hiện nay mà Việt Nam cũng không thể đi ngược lại được.
Ông Bấm Lê Hiếu Đằngtừng giữ chức Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM. Quý vị có các ý kiến khác nhau về chủ đề này xin chia sẻ với Diễn đàn BBC hoặc trang Facebook. Về bài mới nhất trên Quân đội Nhân dân phê phán ông Lê Hiếu Đằng xin bấm vào Bấm địa chỉ này.

Ngài Tổng bí thư và sự “khốn cùng” của “đúc kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận” của Hạ Đình Nguyên


Ngài Tổng bí thư và sự “khốn cùng” của “đúc kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận”

Hạ Đình Nguyên
Tháng 4-2012
Thùy Linh – HIỆU ỨNG CÁNH BƯỚM Phạm Đình Trọng Đất gọi Nguyễn Minh Thuyết -ĐỐI THOẠI
anhbasam Vụ Ecopark-Văn Giang: Đơn tố giác “có dấu hiệu làm giả” tài liệu của Chính phủ Đoan Trang Vì sao người dân quyết liệt bám giữ đất? & Bài 2: Được, mất… anhbasam Vụ Văn Giang: Nhà báo Việt Nam khổ HƠN… chó!
Lehienduc Nam Định – Cần kiểm tra khẩn cấp một số văn bản liên quan đến dự án Khu công nghiệp Bảo Minh ! Nguyenxuandien VỤ KCN BẢO MINH – VỤ BẢN: BÀ CON ĐANG KÉO LÊN HUYỆN Bùi Văn Bồng: BỎ QUA ĐỐI THOẠI SẼ PHÁT SINH ĐỐI TRẬN
***
Hạ Đình nguyên- Ngài Tổng bí thư và sự “khốn cùng” của “đúc kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận”
Có lẽ nhiều người bị chứng trầm cảm sau khi đọc “bài nói chuyện quan trọng” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tạiCubavừa rồi.
Sự quan trọng của bài nói chuyện quan trọng là sự mất phương hướng quan trọng. Vì điểm xuất phát thì không rõ ràng, mà đích đến lại mơ hồ. Người ta bổng nhớ đến, vào cùng một thời điểm, cuộc phóng tên lửa của Triều Tiên. Tên lửa không đi tới đâu, nửa chừng nổ tung, rơi xuống biển. Không đến được đích đến, mà đích đến là đâu, cũng mơ hồ không kém bài nói chuyện quan trọng. Tuy nhiên, hai sự kiện đều mang khí thế tự tin và tính kiên cường tương đương nhau. Một bên là khoe sức mạnh vũ khí, một bên là biểu thị sức mạnh tinh thần với đường gươm tư tưởng sắc bén. Ánh hào quang lý luận xã hội chủ nghĩa lóe sáng rực giữa trời đêm bao trùm lên chủ nghĩa tư bản đang suy thoái. Ở thế kỷ này, rất hiếm hoi để có một người hùng đứng lên, nói cho cả thế giới biết về tính “ưu việt” của Chủ nghĩa xã hội, và chỉ rõ sự khủng hoảng “không cưỡng nổi” của Chủ nghĩa tư bản. Kim Jung Un ít nhất làm cho nhân loại ở một nửa quả đất lên cơn sốt. Bài nói chuyện quan trọng gây ngạc nhiên cho nửa quả đất còn lại. Dù nửa chừng rơi xuống biển, hoặc nửa chuyến đi lại quay về, thì tiếng vọng vẫn còn đó, ít nhất cũng nằm trong một chuổi chứng tích của lịch sử. Ai dám chê ý chí và bản lãnh của Kim Jung Un? Ai dám hoài nghi sự vững vàng kiên định về chính trị – tư tưởng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng?
Nhưng có người bảo,Cubakhông phải là nơi đến để nói đùa!
Trước đây, ông cựu Chủ tịch nước Việt Namsang Cubanói về chuyện: hai bên thay phiên nhau, chia thành hai ca thức-ngủ, để canh hòa bình thế giới, là câu nói thuộc hàng quý hiếm, để đời. Năm nay, bài nói chuyện quan trọng, với nét tư tưởng hoành tráng, có tính chất dẫn đầu thời đại, xuất phát từ bệ phóng Việt Nam, một xứ sở đang đứng ở điểm cao của “Đỉnh Gió Hú”, không còn là “ Đồi Thịt Băm”, một xứ sở rất thần tiên xhcn, được nhân danh trong tương lai. ! Và theo đó, Nhân dân Việt Nam dưới sự dắt dẫn của Đảng Cộng sản Việt Nam, với 80 năm của nhiều thế hệ kế tiếp nhau chết trẻ, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, rất vẻ vang và kiên cường, nay sẽ tiếp tục phấn đấu nữa, hy sinh nhiều thế hệ nữa để giữ vững lý tưởng xhcn, một học thuyết “đỉnh” của loài người…Ngoài lý do “bạn đã từng khuyên ta… phải kiên trì!”, còn có một niềm tin vững chắc khác, đó là sự xác tín, chắc như đinh ghim bánh xe, sau những “ đúc kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận” rất đáng tự tin, tự hào của Đảng Cộng sản Việt Nam mà ông Nguyễn Phú Trọng là Tổng Bí thư, đồng thời là nhà lý luận tự thấy là tầm cở:
“Chúng tôi luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn từng bước đi…” (điều này nói lên hàm lượng chất xám rất cao nhé!), Chủ nghĩa xã hội… “là sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp (sự nghiệp là bể khổ vậy), “vì nó phải tạo nên sự biến đổi sâu sắc trên tất cả các lãnh vực đời sống” (gần như làm lại con người), và cuối cùng thì phải, “trải qua thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi” (tương đương với nhiều kíếp?).
Nghe đoạn lý luận cốt lõi quan trọng trên đây, ai mà không hãi hùng, sốt cả bốn vó?
Thời gian quả là một đại lượng vĩnh hằng.
Trăn trở cũng là trạng thái vô định.
Bước đi thì nằm trong phạm trù khoa học lượng tử.
Nó cao hơn Tôn giáo, siêu hơn Tôn giáo, mơ hồ khó hiểu hơn Tôn giáo, ở chỗ nó chỉ do những con người, mà ta thấy hằng ngày rất tầm thường, lãnh đạo, miễn sao thực hiện đúng giáo điều. Cái luận lý cùa nó tiếp theo phải được hiểu là: Nhân dân Việt Nam (kể cả Cuba anh em nữa nhé), gồm cả nam phụ lão ấu và những trẻ chưa sinh, đều phài nín thở mà theo dõi, lắng nghe, với sự tôn quý và kỷ luật, về những “trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, chọn lựa của… chúng tôi,” (gồm ông Nguyễn Phú Trọng và XYZ nào đó?), vì sự trăn trở này có giá trị lãnh đạo cho “sự nghiệp lâu dài vô cùng khó khăn và phức tạp” của nhiều kíếp người.
Chính vì rất lâu dài và nhiều bước đi, nên không mấy ai ngạc nhiên thấy các thái tử đỏ, công chúa đỏ, vội vàng được đưa vào đội hình kế thừa lãnh đạo, như ở Trung Quốc, và ở Triều Tiên… và tất nhiên, các thế hệ thanh niên lành và rách phải trở thành đội vệ binh đỏ để thực hiện cuộc thánh chiến kiên trì này.
Nhưng còn một khái niệm nữa, vừa bí hiểm vừa nguy hiểm: “Phải tạo nên sự biến đổi sâu sắc trên tất cả các lãnh vực đời sống”. Ai? Ai có thể làm được điều này? Và dám làm điều này? Trong lịch sử nhân loại từng có những kẻ ngông cuồng. Triết gia Nietzsche đã từng có cuồng vọng đòi làm mới nhân loại, tên thợ sơn Hitler đã một lần dám thực hiện. Polpot cũng đã một lần làm nên đỉnh cao cho cuộc “biến đổi sâu sắc trên tất cả các lãnh vực đời sống” của nhân dân Campuchia, biến xứ sở này thành những cánh đồng chết. Ở Triều Tiên, Đảng và ba đời kế thừa lãnh tụ vĩ đại đã đưa nhân dân Triều Tiên đến chỗ cực kỳ trật tự và ngăn nắp, bình đẳng và không ai bóc lột ai, đã biến đổi sâu sắc, toàn diện “trên tất cả các lãnh vực đời sống” theo cách duy nhất, tuyệt đối mà Đảng và Lãnh tụ muốn. Chắc chắn là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không có tham vọng về một sự biến đối sâu sắc theo kiểu này. Ông nói về những mong muốn thay đổi theo cách tốt đẹp, hơn cả nằm mơ, bao gồm một mớ từ ngữ phổ thông, giá rất rẻ và ai cũng biết. Có khác chăng là hàm lượng chất gia vị trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn… gia giảm ít nhiều mà thôi. Có một vị Tổng Bí thư (Đông Âu?) nói một câu rất dễ nhớ: “Người Cộng sản không phải là kẻ lừa dối chúng ta, nhưng họ đã không làm được điều mà họ nói.” Thế nhưng ngày nay, những người Cộng sản kế thừa, biết chắc chắn không làm được mà vẫn nói, nói mãi, nói kiên trì, thì nên gọi họ là kẻ gì?
Bài nói chuyện quan trọng ở nước bạn Cuba với tinh thần rất hào sảng và hoành tráng, nhưng trong nước, trước khi đi, ông Tổng Bí thư đã kêu gào chấn chỉnh Đảng, về tình trạng tham nhũng, thoái hóa đạo đức trong suy nghĩ, trong lối sống của đảng cầm quyền, và cảnh báo về vai trò lãnh đạo của Đảng đang rất bấp bênh và chao đảo, một bộ máy cầm quyền thối nát với rất nhiều sự bất mãn và phản ứng của nhân dân, tình trạng đàn áp, bắt bớ và chống đối xảy ra liên tục… trong bối cảnh một xã hội xuống cấp mọi mặt.
Hóa ra, bài nói chuyện quan trọng, chẳng phải đứng từ điểm cao nào cả, không phải “đỉnh gió hú”, hay “đồi thịt băm”, mà từ một trũng thấp vô danh của sự mơ mộng, mơ màng, bay bổng do cái “tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận” hoành tráng theo cách tự ám thị tạo ra. Đây quả đúng là sự khốn cùng, và cũng mong là cuối cùng, của đỉnh cao lý luận xã hội chủ nghĩa ở đất nước này.
Đang ở địa ngục nên mơ thiên đàng, đó vừa là thực tế vừa là tâm bệnh. Đó là sự đánh tráo có ý thức, hoặc là vô thức. Đó cũng là một loại giấc mơ của người muốn được làm kẻ chăn cừu. Đó là sự lẫn lộn giữa nói dối và ngụy tín. Lịch sử không còn một loại hẹn hò nào tương tự như thế nữa, cho những ai mơ mộng, một thời đại đã thật sự qua rồi. Do đó, bài nói chuyện quan trọng nhanh chóng chìm vào quên lãng, như chiếc tên lửa lệch đường đi.
Lịch sử luôn không lắng nghe một lý thuyết nào, hay một vĩ nhân nào. Không một lý thuyết nào hay vĩ nhân nào có thể bắt lịch sử đi theo mình.
Nếu có một khoảnh khắc lịch sử nào, có vẻ đi theo một lý thuyết, một vĩ nhân, thì đó là khoảnh khắc suy đồi và bệnh hoạn, chứa đựng sự nhầm lẫn có tính giao mùa, cái khoảnh khắc mà đại bộ phận trở thành nô lệ, thì không đáng được tán dương
Một lịch sử lành mạnh là lúc mà lịch sử đó vắng bóng sự thống trị nổi bật của ai đó hay lý thuyết nào đó. Lịch sử loài người là lịch sử đi tìm kiếm tự do, trên con đường đi tìm kiếm, nó tự bổ sung và điều chỉnh. Lịch sử mỗi đời người cũng là lịch sử đi tìm tự do, ở hình thái thấp nhất – hữu hình, ở hình thái cao nhất – trừu tượng. Hình thái thấp nhất là thoát sự kìm chế của kẻ khác, hình thái cao nhất là thoát khỏi sự kìm chế của bản năng. Càng tán dương một lý thuyết, một vĩ nhân (hay một nhóm) là càng nói lên sự tồi tệ của đám đông, càng ngợi ca con berger (loại chó giữ cừu), tức là gián tiếp ngợi ca sự thụ động ngoan ngoãn của bầy cừu

Đã xa quá rồi, tư duy của thời đại!
Tai họa đáng tiếc là đem sự độc tài đối lập với khái niệm dân chủ được hiểu như là một trạng thái hổn độn. Nhưng người ta không nghĩ rằng, hể dân chủ thì là hổn độn, là thuộc chủ nghĩa tư bản bóc lột, là nhà nước tư sản, là kẻ xấu, là vũ khí lợi dụng… Tại sao không hiểu rằng thiết chế dân chủ ngày nay là một thiết chế được sàng lọc, được kiểm chứng qua nhiều thử thách, là thành tựu lớn lao của mấy thế kỷ đấu tranh của nhân loại? Chứ nó không phải là sản phẩm do trăn trở của một nhóm người độc tài đồng thuận nào đó tạo nên, sau một số đêm mất ngủ. Mà như ông Tổng Bí thư đã thừa nhận, trong bài nói chuyện quan trọng, ông và nhóm đồng thuận trong Đảng đã nhầm lẫn rằng: “đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản.” (ý nói rằng, vì hiểu nhầm là đồng nhất, nên đã lúng túng một thời gian dài từ chối kinh tế thị trường và từ chối nhà nước pháp quyền, vì xem nó là của chủ nghĩa tư bản và của nhà nước tư sản). Nhưng bây giờ, thôi không nhầm lẫn như thế nữa, thì sao? Hay vẫn cố tiếp tục gượng gạo che lấp, chống đỡ và biến tấu? Cả dân tộc, cả vận mệnh của quốc gia phải đau khổ và trả giá đắt như thế nào, cho sự nhầm lẫn có trăn trở ấu trĩ này? Đã hiểu rằng, kinh tế thị trường không đồng nhất với chủ nghĩa tư bản, Nhà nước pháp quyền không đồng nhất với Nhà nước tư sản, thì cũng nên hiểu tiếp rằng thiết chế dân chủ – thành tựu lớn lao của nhân loại – không nên quá trăn trở để hiểu nhầm thêm lần nữa, rằng nó là của riêng của đế quốc tư bản, của kẻ xấu. Thật ra, hiểu như thế không nhầm đâu! Tuy nhiên, người lương thiện rất khó chịu về một lối lý luận, khi đến bước đường cùng thì thừa nhận sự thật, thừa nhận sai lầm, khi chưa đến đường cùng thì tiếp tục tấu hài ngụy biện. Kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, thiết chế dân chủ là hiện thực đang vận hành trên toàn thế giới, việc đi tìm kiếm xác định chúng nó là của ai, không là của ai, để thực hiện hay không thực hiện theo, thì quả là sự mặc cảm khốn cùng của một thứ “ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận” quá đáng thương!
Thêm một chút rò rỉ ở quả đạn pháo: “Thành phần chính trị cơ hội đang hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá…” .Thế thì, định chế xã hội chủ nghĩa lẽ nào luôn luôn ở thế đối lập với một bọn du thủ du thực, đầu trâu mặt ngựa, chực sẳn để hí hửng, xuyên tạc, chống phá? Đối thủ của Chủ nghĩa xã hội phải là điều gì cao cả hơn thế chứ? Hay nó chỉ xứng tầm một đối thủ như vậy? Vì thế, trong đọan văn trên đây, từ “hí hửng” lẽ ra nó không nên có, thật đáng tiếc, từ vị trí của người nói và nơi đứng nói, nhưng nó đã lỡ có, lại làm vui cho cả bài nói chuyện quan trọng! Nhiều người mong rằng chẳng nên có một sự hí hửng nào cả – mà nên có sự nghiêm túc xứng tầm với những trăn trở – suy nghĩ – tìm tòi – lựa chọn – bao gồm cả sự hí hửng về nền kinh tế tư bản, nói đúng hơn là của cả thế giới, đang khủng hoảng. Chỉ có Trung Quốc là một quốc gia có đủ trơ trẽn và hãnh tiến để có thái độ này, cớ chi đến ViệtNam?
“Bài nói chuyện quan trọng”, thật đáng tiếc, giống như quả tên lửa của Triều Tiên, một sự lên gân nông nổi tầm Nguyên Thủ Quốc Gia! Thật đáng tiếc!
H. Đ. N.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

ĐỪNG GÂY THÊM NỮA TỘI ÁC VỚI DÂN TỘC, VỚI LỊCH SỬ của PHẠM ĐÌNH TRỌNG


ĐỪNG GÂY THÊM NỮA TỘI ÁC VỚI DÂN TỘC, VỚI LỊCH SỬ

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

1. BÓNG ĐEN NHỮNG VỤ ÁN CHÍNH TRỊ Ô NHỤC TRONG QUÁ KHỨ ĐANG TRỞ LẠI

Đọc những bài viết phê phán ông Lê Hiếu Đằng trên báo Quân Đội Nhân Dân, báo Nhân Dân, báo Đại Đoàn Kết, báo Công An Nhân Dân, báo Sài Gòn Giải Phóng . . . tôi lại nhớ đến những bài viết rầm rộ, đồng loạt, tới tấp đánh NVGP (Nhân Văn Giai Phẩm) trên các báo ở miền Bắc hồi những năm 1956, 1957. 

Những bài viết phê phán ông Lê Hiếu Đằng sao giống khẩu khí, giọng điệu, giống cả thái độ quyền uy lấn lướt, giống cả sư hằn học nhỏ nhen, muốn làm sống lại cả không khí ngột ngạt, căng thẳng thời đánh NVGP đến thế.
Chỉ khác chút ít về độ nóng và qui mô. 

Đánh NVGP lệnh công khai phát ra từ chót vót trên cao. Những bài viết và nói nảy lửa của ông Tố Hữu phát ra từ cung đình nhà Đỏ như phát súng lệnh. Đồng loạt các nhà nghiên cứu, các văn nghệ sĩ ào ào nhảy vào đánh túi bụi những mục tiêu đã được chỉ định. Đánh để cố tách xa mình ra khỏi NVGP, để bày tỏ lòng trung thành với đảng, để lập công với đảng nên không thiếu một tên tuổi nào, không sót một tờ báo nào trong cuộc đánh hội đồng này. 

Ngày nay mượn cớ đánh bài Suy Nghĩ Trong Những Ngày Nằm Bịnh của ông Lê Hiếu Đằng để đánh phá cả phong trào đấu tranh đòi dân chủ hóa đất nước mà chỉ có dăm tờ báo với vài người viết tên tuổi lạ hoắc có thể coi là vô danh. Có thể họ có tên tuổi đấy nhưng phải núp dưới cái tên xa lạ thì cũng coi như vô danh. Báo Nhân Dân còn bắt kẻ vô danh đó phải đeo thêm vòng lá ngụy trang rậm rì là người Mĩ gốc Việt Amari TX. Chỉ có một giáo sư cung đình, giáo sư của đảng xung trận. Càng thấy sự yếu thế, sự bất chính, không có lẽ phải trong trận đánh phá, răn đe tiếng nói rất chính đáng của người dân, tiếng nói rất bình thường của cuộc sống trong một xã hội dân sự.

Mức độ có khác, qui mô và khí thế có khác nhưng nội dung thì hoàn toàn là sự tái hiện lại vụ Nhân Văn Giai Phẩm, vụ Xét Lại Chống Đảng trong quá khứ, là quyền uy độc tài đánh phá ngăn chặn đòi hỏi tự do dân chủ, là lực lượng chuyên chính về tư tưởng bảo vệ quyền uy, bảo vệ đặc quyền đặc lợi của Nhà nước đảng trị chống trả lại tiếng nói vì dân vì nước. 

Đúng như nhìn nhận của ông Nguyễn Hữu Đang, một trong những nhân vật hàng đầu của NVGP, phong trào NVGP thực chất là: 

“Chống lại sự biến chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ chế độ chuyên chính thông thường đã bắt đầu có xu hướng cực quyền, còn gọi là toàn trị, tiếng Pháp là totalitarisme, tiếng Anh là totalitarian, trong đó con người bị cưỡng bức toàn diện, triệt để nhiều khi tàn nhẫn đến vô nhân đạo, phi nhân văn, biến con người bị trị thành nô lệ của một tập đoàn thống trị ít người và duy ý chí, tuy nhân danh cách mạng mà hành động, nhưng hiệu quả khách quan của hành động lại phản tiến hóa. Sự biến chất này do ảnh hưởng tai hại của chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao Trạch Đông, cả hai đều tự nhận là chủ nghĩa Mác-Lênin! Rất tiếc là lúc ấy Đảng Cộng sản Việt Nam tin là như thế.”
(Phạm Xuân Nguyên. Ông Đang. Talawas. 12. 02. 2007)

NVGP chỉ là tiếng nói của trí thức, nghệ sĩ đòi tự do sáng tạo trong một xã hội dân chủ. Nhưng đảng Cộng sản Việt Nam, lúc đó còn có tên là đảng Lao động Việt Nam, và những người có đặc quyền, đặc lợi trong đảng sợ mất vị trí độc tôn liền vu cho NVGP là một tổ chức phản động chống đảng và lật đổ Nhà nước Cộng sản. Ông Tố Hữu khi đó là Ủy viên Trung ương đảng Lao động Việt Nam, đặc trách công tác văn hóa, văn nghệ, truy chụp:

“Lật bộ áo Nhân Văn – Giai Phẩm thối tha, người ta thấy ra cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, Trốt kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm . . .” (T.9. Sách “Qua Cuộc Đấu Tranh Chống Nhóm Phá Hoại Nhân Văn Giai Phẩm Trên Mặt Trận Văn Nghệ.”. Tố Hữu. Nhà xuất bản Văn Hóa. Hà Nội. 1958).

“Trong cái công ty phản động Nhân Văn – Giai Phẩm ấy thật sự đủ mặt các loại “biệt tính”: từ bọn Phan Khôi, Trần Duy mật thám cũ của thực dân Pháp đến bọn gián điệp Thụy An, từ bọn Trốt kít Trương Tửu, Trần Đức Thảo đến bọn phản Đảng Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt. Một đặc điểm chung là hầu hết bọn chúng đều là những phần tử thuộc giai cấp địa chủ và tư sản phản động, và đều ngoan cố giữ lập trường quyền lợi giai cấp cũ của mình, cố tình chống lại cách mạng và chế độ.” (T. 17. Sách đã dẫn) 

Cuộc đấu tố địa chủ trong cải cách ruộng đất diễn ra ở bãi đấu tố trên cánh đồng. Ở đó người đấu tố càng tỏ ra sôi sục căm thù vạch ra được nhiều tội ác của địa chủ càng được đánh giá là có giác ngộ giai cấp, càng được đảng tin cậy, cất nhắc. Vì thế người đấu tố phải cố lên gân lập trường giai cấp, phải tưởng tượng ra đủ các tội vu oan giá họa làm cho một nông dân hiền lành chỉ nhờ biết tổ chức làm ăn, chịu khó cần cù khuya sớm và tằn tiện ki cóp mà có đủ ruộng cày cấy và có cuộc sống tạm đủ ăn cũng trở thành địa chủ cường hào gian ác phải nhận bản án tử hình. 

Cuộc đấu tố NVGP diễn ra trên mặt báo, trên trang sách cũng đòi hỏi người đấu tố phải lên gân lập trường giai cấp và giàu sức tưởng tượng như bần cố nông đấu tố địa chủ. Vì thế những tiếng nói chỉ đòi dân chủ xã hội, đòi tự do sáng tác của những trí thức nghệ sĩ chân chính muốn được sáng tạo cũng trở thành “một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, Trốt kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm. . .” 


Bài viết Suy Nghĩ Trong Những Ngày Nằm Bịnh của ông Lê Hiếu Đằng chỉ là tiếp nối tiếng nói NVGP nửa thế kỉ trước đòi tự do dân chủ:

“Muốn có dân chủ thực sự thì phải thay đổi thể chế từ một nhà nước độc tài toàn trị chuyển thành một nhà nước cộng hòa với tam quyền phân lập: lập pháp, hiến pháp, tư pháp độc lập. Tư pháp độc lập thì mới có thể chống tham nhũng. Cần có Quốc hội lập hiến để soạn thảo và thông qua Hiến pháp mới. Sau đó bầu Quốc hội lập pháp để ĐCS sẽ qua bầu cử bình đẳng mà trở thành người lãnh đạo.

Tôi nghĩ trong một thời gian dài ĐCS sẽ là một lực lượng chính trị mà không có bất cứ lực lượng nào có thể tranh chấp được. Các nhà lãnh đạo ĐCS cần tự tin điều đó. Dần dần các Đảng đối lập sẽ trở thành một lực lượng làm nhiệm vụ như một kháng thể trong một cơ thể xã hội lành mạnh. Nếu xã hội không có lực lượng đối lập sẽ trở thành một con bệnh SIDA khó trị, chờ chết mà thôi.


Con người khác con vật ở chỗ là có tự do. Tự do là thuộc tính của con người. Không có tự do thì con người chỉ là một đàn cừu (theo ngôn ngữ của Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu). Không có tự do thì không thể có khoa học, văn học, nghệ thuật, báo chí… thật sự. Do đó Hiến Pháp 1946 đã qui định những quyền tự do của con người. Đó là vấn đề quyền con người. Nhưng giờ đây chế độ toàn trị đã phản bội tước đoạt tất cả các quyền cơ bản đó, vất bỏ tuyên ngôn nhân quyền và nhai đi nhai lại luận điệu mỗi nước có hoàn cảnh riêng, có vấn đề nhân quyền riêng. Họ không biết rằng đó là quyền cơ bản và phổ quát mà loài người đã đấu tranh qua nhiều thế hệ.” (Lê Hiếu Đằng. Suy Nghĩ Trong Những Ngày Nằm Bịnh)

Trước sự tha hóa trong quyền lực không thể cứu vãn của đảng Cộng sản Việt Nam nếu cứ độc đảng, ông Lê Hiếu Đằng đề xuất: “Tôi biết nhiều đảng viên đang muốn ra khỏi đảng, hoặc không còn sinh hoạt đảng (giấy sinh hoạt bỏ vào ngăn kéo). Vậy tại sao chúng ta hàng trăm đảng viên không tuyên bố tập thể ra khỏi đảng và thành lập một đảng mới, chẳng hạn như đảng Dân Chủ, Xã Hội, những đảng đã có trên thực tế trước đây cho đến khi bị đảng Cộng sản bức tử phải tự giải tán”.

Đề xuất đó là lời nhắc nhở nghiêm khắc cho đảng Cộng sản Việt Nam phải sửa mình, cất mình lên thoát khỏi sự trượt dài trong tha hóa vì quyền lực, tạo cơ hội cho đảng Cộng sản Việt Nam có chính danh lãnh đạo Nhà nước và xã hội trong cuộc cạnh tranh chính trị lành mạnh: “Các đảng, các tổ chức đối lập sẽ đấu tranh bình đẳng với đảng Cộng sản trong cuộc bầu cử hợp pháp . . .”. Đó là thiện chí Lê Hiếu Đằng. Đó cũng là trung thực Lê Hiếu Đằng, đảng tính Lê Hiếu Đằng.

Nhưng như đỉa phải vôi, ông Trọng Đức trên báo Quân Đội Nhân Dân ngày 18. 08. 2013 giật mình, hốt hoảng la lối: “Thực chất các lời khuyên “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” đưa ra gần đây một cách rất “tâm huyết”, chẳng qua chỉ nhằm tước bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản mà thôi.” 

Ông Linh Nghĩa trên báo Công An Nhân Dân ngày 24. 08. 2013 truy chụp: “Vấn đề nghiêm trọng hơn là ở chỗ ông Lê Hiếu Đằng thách thức pháp luật và kêu gọi xóa bỏ chế độ hiện hữu, bao gồm cả vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam”. 

Còn ông người Mĩ gốc Việt Amari TX thì ngày 22. 08. 2013 lên báo Nhân Dân vu vạ: “Ðọc bài của một “nhà bất đồng chính kiến” công bố gần đây, tôi không ngạc nhiên và cũng không bất ngờ về nhân vật mà các phần tử cơ hội, bất mãn đang ra sức tung hứng như “ngọn cờ” để chống phá Ðảng Cộng sản Việt Nam (ÐCS Việt Nam) và Nhà nước CHXHCN Việt Nam.”, “Bài viết của ông là sự thóa mạ chủ nghĩa Mác, mạt sát ÐCS Việt Nam và chế độ chính trị – xã hội hiện nay ở Việt Nam, đòi thay đổi chính trị bằng cách thành lập một đảng phái khác.” (Ngôn từ, khẩu khí, thái độ và lối mòn tư duy thâm căn cố đế của ông Amari TX làm người đọc cứ ngờ ngợ rằng ông người Mĩ gốc Việt này như đang sống và đã sống hàng năm hàng đời trong khu tập thể nào đó cấp cho cán bộ ở Trung Tự, Kim Liên, Đội Cấn, Hà Nội). 

Đúng là tiếng hô hoán, giọng truy chụp quyền uy và vu vạ chính trị ngày nào để tạo dựng lên vụ NVGP ô nhục!

2. NHỮNG CHIÊU TRÒ DỰNG TỘI

*Coi thường người dân, lừa dối người dân là một bài bản của những người tạo ra vụ NVGP. Bài bản nhẫn tâm và bất lương đó đến nay vẫn được sử dụng khi ông Trọng Đức viết: “Tại Việt Nam, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, vừa có quyền lập hiến, lập pháp, vừa có quyền giám sát tối cao, vừa có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Nếu nhìn vào cơ cấu đại biểu Quốc hội sẽ thấy, các tầng lớp nhân dân, các thành phần xã hội đều có đại diện của mình trong Quốc hội. Quốc hội Việt Nam do toàn thể nhân dân Việt Nam bầu ra để thay mình thực hiện quyền lực Nhà nước. Do vậy, quyết định của Quốc hội thể hiện tâm tư, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân. Việc duy trì Điều 4 Hiến pháp năm 1992 theo quyết định của Quốc hội, do vậy, cũng thể hiện đúng nguyện vọng của nhân dân.” 

Quyết định của Quốc hội thể hiện tâm tư nguyện vọng của tuyệt đại đại số nhân dân mà khi Quốc hội vừa đòi thảo luận có nên sát nhập Hà Tây vào Hà Nội không thì ông Ủy viên Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời là Chủ tịch Quốc hội liền gạt phắt: “Việc sát nhập Hà Tây vào Hà Nội, Bộ Chính trị đã quyết định rồi!” Các đại biểu Quốc hội đành cúi mặt câm lặng rồi răm rắp giơ tay biểu quyết theo quyết định của đảng! 

Hơn chín mươi phần trăm đại biểu Quốc hội là đảng viên Cộng sản thì đảng muốn gì chả được, đảng bảo sao Quốc hội cũng phải nghe. Vì thế Hiến pháp mới có điều 4 ngang nhiên tước đoạt quyền công dân của người dân. Vì thế bộ luật tố tụng hình sự mới có điều 79, điều 88, điều 258 trắng trơn vi phạm Hiến pháp. 

Hơn chín mươi phần trăm đại biểu Quốc hội là đảng viên của đảng tham nhũng mà ông Trọng Đức bảo Quốc hội đó “thể hiện tâm tư, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân” thì đó là sự miệt thị, xỉ nhục dân đấy, ông Trọng Đức ạ!

*Thần linh hóa, tôn giáo hóa đảng Cộng sản Việt Nam. Bất biến, định mệnh hóa, tuyệt đối hóa sự cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam, ai động đến sự cai trị đó, đòi pháp luật hóa, chính danh hóa sự cai trị đó là nhảy thách lên mang chuyên chính tư tưởng ra trấn áp. Đó là khởi sự của vụ NVGP và cũng là khởi sự của vụ việc hôm nay. 

Một ông người Mĩ gốc Việt ở tận bên kia Thái Bình Dương mà hùng hồn tuyên bố về sự lãnh đạo bất biến của đảng Cộng sản Việt Nam như một định mệnh nghiệt ngã đối với dân tộc Việt Nam: “Sự lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước đã trở thành nguyên tắc nhất quán. Nguyên tắc “bất biến” là vừa phải giữ vững quyền lãnh đạo chính trị của Ðảng với Nhà nước, vừa phải bảo đảm sự lãnh đạo của Nhà nước, làm cho Nhà nước trở thành một nhà nước dân chủ mới. (Amari TX. Vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam là một yếu tố khách quan. Báo Nhân Dân 22. 08. 2013).

3. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỰC TẾ LỊCH SỬ


Những nhà viết lịch sử đảng, những nhà lí luận, những cán bộ tuyên huấn của đảng suốt mấy chục năm qua đều một giọng cường điệu hóa, anh hùng ca hóa công tích của đảng Cộng sản Việt Nam mà không chịu nhìn vào thực tế là những sai lầm liên tiếp trong quá khứ, tham nhũng không có điểm dừng trong hiện tại của đảng đã đưa dân tộc Việt Nam đi từ thảm họa này đến thảm họa khác. 

Thảm họa cải cách ruộng đất đánh sập từ gốc rễ đạo lí Việt Nam, đánh tan tác văn hóa làng xã tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam. 

Thảm họa Nhân Văn Giai Phẩm, thảm họa ngụy tạo ra vụ Xét lại chống đảng đã giam cầm, đầy ải, giết dần giết mòn những tài năng, tinh hoa nhất của dân tộc Việt Nam. 

Thảm họa cải tạo tư sản ở miền Bắc sau năm 1954, cải tạo tư sản ở miền Nam sau năm 1975 tước đoạt quyền làm chủ của những chủ tư sản biết tổ chức sản xuất kinh doanh tạo ra việc làm cho người lao động, tạo ra của cải cho xã hội. Những cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân đang làm ăn có lãi và đang phát triển mạnh mẽ khi chuyển vào tay Nhà nước xã hội chủ nghĩa liền thua lỗ rồi tan hoang. Cải tạo tư sản đã hủy hoại, xóa sổ cả một nền sản xuất công nghiệp tự chủ đang lớn mạnh của người dân, của đất nước. 

Thảm họa tập trung cải tạo thực chất là tù đày lực lương ưu tú nhất của xã hội miền Nam cũng là tài sản con người của dân tộc Việt Nam, đẩy một nửa dân tộc Việt Nam ra khỏi vòng tay Mẹ hiền Tổ Quốc Việt Nam. Từ đó dẫn đến thảm họa thuyền nhân vùi xác hơn nửa triệu người dân Việt Nam dưới đáy biển. 

Thảm họa mất đất mất biển. Những mảnh đất mang hồn thiêng tổ tiên người Việt Nam, thấm đẫm máu nhiều thế hệ người Việt Nam, những tên đất chói lọi trong lịch sử Việt Nam đã bị Nhà nước Cộng sản Việt Nam cắt sang đất Tàu Cộng! 

Thảm họa khai thác bô xít Tây Nguyên tàn phá môi trường, tàn phá văn hóa Tây Nguyên, làm chảy máu lâu dài nền kinh tế đất nước. Dự án khai thác bô xít Tây Nguyên liên tục ngốn nguồn vốn lớn hàng chục ngàn tỉ, hàng trăm ngàn tỉ đồng của nền kinh tế đất nước nhưng không làm ra một đồng tiền lãi, không bao giờ có lãi ở thời hiện tại! 

Thảm họa Vinashin, Vinalines làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng vốn ngân sách Nhà nước, tạo ra đổ vỡ dây chuyền làm cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp phá sản, đẩy nền kinh tế đất nước vào khủng hoảng kéo dài, không thể cất mình lên nổi. 

Thảm họa tụt lại sau thế giới, lạc lõng với thế giới. Năm 1975 Thái Lan phải ngước nhìn lên sự phát triển của kinh tế, xã hội miền Nam Việt Nam thì nay Thái Lan phải ngoái lại phía sau nhìn sự ì ạch của kinh tế xã hội Việt Nam vì Thái Lan đã vượt xa Việt Nam vài chục năm rồi và càng ngày Thái Lan càng bỏ xa Việt Nam.

Thảm họa trách nhiệm. Ở các nước dân chủ, bằng lá phiếu và bằng tự do ngôn luận, tự do báo chí, người dân thực sự có vai trò quyết định đến việc chấp chính của đảng cầm quyền và người cầm quyền. Chỉ một đổ vỡ nhỏ trong đời sống xã hội hoặc đời sống kinh tế đất nước, người cầm quyền phải đứng ra nhận trách nhiệm bằng việc từ chức, đảng cầm quyền cũng mất quyền lãnh đạo. Chỉ vì quyết liệt hạn chế gia tăng dân số không được lòng dân mà đảng Quốc Đại đương quyền ở Ấn Độ không nhận đủ số phiếu bầu của người dân để tiếp tục cầm quyền và bà Thủ tướng lừng lẫy công lao với đất nước Ấn Độ Indira Gandhi cũng mất chức Thủ tướng. Có dân chủ, đổ vỡ khó tái diễn và không thể có đổ vỡ dây chuyền, đổ vỡ lan rộng trong tất cả các mặt đời sống xã hội. Ở ta những thảm họa lớn gây chết chóc hàng trăm ngàn người dân như thảm họa cải cách ruộng đất, giết chết cả nền văn học nghệ thuật như thảm họa Nhân Văn Giai Phẩm, làm đình đốn cả nền kinh tế như thảm họa Vinashin nhưng những người cầm quyền không ai chịu trách nhiệm, không ai rời vị trí quyền lực, cùng lắm là luân chuyển từ vị trí này sang vị trí khác như sau thảm họa cải cách ruộng đất. Đảng độc quyền thì cứ bình thản cầm quyền. Người yếu kém và có tội cứ thản nhiên nắm quyền. Thảm họa cứ tiếp diễn và lan rộng ra cả xã hội. Xã hội Việt Nam hôm nay thực sự là thảm họa đối với dân tộc Việt Nam văn hiến.

4. ĐỐI THOẠI VỚI TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

Một đảng như vậy mà ông người Mĩ gốc Việt, Amari TX, ông người Việt gốc Đảng, Trọng Đức và ông giáo sư của đảng, Hoàng Chí Bảo, huyền thoại hóa:

“Trong khi một loạt nước xã hội chủ nghĩa có lịch sử xây dựng chủ nghĩa xã hội dài hơn lần lượt sụp đổ, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vẫn đứng vững và nhờ đổi mới đúng đắn, nhân dân còn đạt thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, được rất nhiều nước ca ngợi. Ðiều đó chứng tỏ ÐCS Việt Nam không chỉ tài tình trong lãnh đạo toàn dân chống chiến tranh xâm lược, mà còn thật sự xứng đáng là người lãnh đạo xây dựng đất nước trong thời bình, ngay cả khi bối cảnh quốc tế có những biến động khôn lường.” (Amari TX. Bài đã dẫn)

“Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước vững mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đem lại những quyền lợi cơ bản cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động. (Trọng Đức. Đôi điều với tác giả “Viết trên giường bệnh”. Báo Quân đội Nhân dân. 18. 08. 2013).

“Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng do Bác Hồ sáng lập và rèn luyện với lịch sử vẻ vang hơn 80 năm, trong đó đã cầm quyền liên tục gần 70 năm nay, từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đã tồn tại và hoạt động chỉ vì Dân và Dân tộc. Đảng ta không có mục đích nào khác ngoài mục đích phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài phấn đấu hy sinh để đem lại lợi quyền cho dân, để dân là chủ và làm chủ. Dân ủy thác cho Đảng trọng trách. Sứ mệnh, địa vị và trọng trách của Đảng là sự lựa chọn của dân, là sự tin cậy mà dân dành cho Đảng, đòi hỏi Đảng phải thực thi tốt nhất để không phụ lòng tin của dân.” ( GS. TS. Hoàng Chí Bảo. Trọng sự thật và chân lí để hành động có trách nhiệm. Quân đội Nhân dân 25. 08. 2013).
Ông giáo sư của đảng, Hoàng Chí Bảo, giật tít bài viết là “Trọng sự thật và chân lí để hành động có trách nhiệm” nhưng chính ông Hoàng Chí Bảo đã viết những điều hoàn toàn không có sự thật, lại càng xa vắng chân lí và ông giáo sư của đảng đang hành động hoàn toàn vô trách nhiệm với đất nước, với dân tộc và với lịch sử. Đọc những điều ông giáo sư của đảng viết tôi cứ nghĩ đến con chim cảnh được chăm bẵm trơn lông mượt da suốt ngày véo von hót làm đẹp lòng người nuôi chim. 

Đọc những điều ông giáo sư của đảng viết, tôi lại nhớ đến bài thơ Cường Quốc Dân Oan của ông bạn nhà báo Lê Phú Khải đã đăng trên nhiều trang báo mạng năm trước: “Những ngày tôi đang sống / Sử gia sẽ viết gì? / Đàn ông uống thuốc rầy giữ đất / Đàn bà cởi truồng chống đảng / Thuốc trừ sâu pha đậm / Thành nghị quyết trung ương / Đất đai là sở hữu toàn dân / Giao cho cha con Bá Kiến / Tự do cưỡng chế thu hồi / Từ Cà Mau đến tận Hà Giang” Và một bài mới gần đây cũng của nhà báo Lê Phú Khải: “Đất nước nghèo như cọng cỏ, cọng rơm / Đi ô sin khắp năm châu bốn biển / Nhưng ra đường là gặp tướng / Ra đường là gặp dân oan”. Ông giáo sư của đảng véo von rằng “Dân ủy thác cho đảng trọng trách”. Người đàn ông thân cô thế cô phải uống thuốc rầy giữ đất ủy thác cho đảng làm luật đất đai là sở hữu toàn dân để lũ quan tham nhân danh Nhà nước đến cướp đất của người dân thân cô ư? Những người đàn bà Việt Nam nghèo khổ phải đi làm ô sin khắp thiên hạ lấy tiền gửi về nuôi gia đình, những cô gái phải mang thân gái hơ hớ tuổi hai mươi đi làm vợ ông già tật nguyền, làm nô lệ tình dục cho người thiểu năng trí não xứ người kiếm sống ủy thác cho đảng cứ tham nhũng làm cho người dân khốn cùng ư?

Thưa ông người Mĩ gốc Việt Amari, ông có biết sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã mang lại hạnh phúc lớn lao như thế nào cho người dân các nước đó không? Nước Đông Đức Xã hội chủ nghĩa là nước phát triển nhất, có đời sống cao nhất trong các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ, Đông Đức sát nhập với Tây Đức thì Đông Đức chỉ là vùng sâu, vùng xa, vùng kém phát triển và nghèo khổ của nước Đức thống nhất. Tây Đức phải san sẻ, dồn của cải tiền bạc vào vực dậy miền Đông để nước Đức trở thành nền kinh tế lớn nhất châu Âu như hôm nay. Niềm hạnh phúc được thể hiện mình, được đóng góp cho đất nước và sự thành đạt của bà Angela Merkel, một công dân bình thường Đông Đức nay là Thủ tướng nước Đức thống nhất chính là hình ảnh người dân Đông Đức khi thoát khỏi chủ nghĩa xã hội mất tính người đấy, thưa ông Amari.

Bất hạnh thay người dân Việt Nam không có được hạnh phúc đó vì lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam không thoát ra được học thuyết giai cấp hư vô để trở về với dân tộc có thật, không có được sự đồng cảm chia sẻ với nỗi đau khổ mất mát của người dân sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa, không nắm lấy cơ hội giải thoát cho nhân dân mà lại đưa đất nước, đưa dân tộc ra làm mồi cho nước lớn Tàu Cộng đổi lấy sự bảo trợ của nước lớn Tàu Cộng để duy trì chủ nghĩa xã hội, duy trì đặc quyền đặc lợi của đảng nên khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ thì lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vội vã hốt hoảng sang Thành Đô gặp lãnh đạo đảng Cộng sản Tàu Cộng. Cho đến nay đến Quốc hội Việt Nam vẫn không được biết tí gì về những kí kết ở Thành Đô liên quan đến vận mệnh đất nước Việt Nam, liên quan đến số phận dân tộc Việt Nam. 

Người dân lo lắng cho vận nước chỉ biết rằng: Tháng 9. 1990 kí kết Thành Đô giữa lãnh đạo hai đảng Cộng sản Việt – Trung. Từ đó hàng năm đến ngày tưởng niệm đồng bào chiến sĩ ngã xuống trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương phía Bắc năm 1979, các báo chính thống đều phải câm lặng không được viết một chữ về sự kiện bi tráng này. Từ đó quan hệ Việt – Trung là quan hệ bất bình đẳng mà phần thua thiệt, tủi nhục thuộc về Việt Nam. Tàu Cộng ngang nhiên cấm dân Việt Nam đánh cá trên biển Việt Nam. Tàu đánh cá Tàu Cộng tràn vào biển Việt Nam. Tàu chiến Tàu Cộng lùng xục tuần tra trên biển Việt Nam, cướp bóc, bắn giết dân Việt Nam. Chủ quyền đất nước bị xâm phạm, tính mạng và nguồn sống của người dân bị mất, danh dự dân tộc bị làm nhục nhưng chỉ có người phát ngôn bộ Ngoại giao tuyên bố phản đối lấy lệ. Còn lực lượng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thì hoàn toàn khoanh tay đứng nhìn! Tháng 12. 1999, kí kết hiệp định biên giới với Tàu Cộng, Nhà nước Cộng sản Việt Nam đã cắt nhượng cho Tàu Cộng hàng ngàn kilomet vuông đất đai của tổ tiên trong đó có điểm cao 1509 ở Hà Giang, nửa thác Bản Giốc ở Cao Bằng, cả tòa thành cổng nước ở Lạng Sơn.

Giáo sư của đảng, ông Hoàng Chí Bảo viết: “Việc tuyên truyền lập một Đảng mới, một Đảng khác, lại kêu gọi đa nguyên đa đảng để xây dựng dân chủ, coi đó là quyền công dân chính đáng, kêu gọi những ai đang muốn ra khỏi Đảng hoặc không còn sinh hoạt Đảng nữa hãy cùng tham gia thành lập đảng mới như các ông Lê Hiếu Đằng, Hồ Ngọc Nhuận gần đây đưa ra là điều không thể chấp nhận.” Không chấp nhận có một đảng khác bên cạnh đảng Cộng sản không phải chỉ là tiếng nói của riêng ông Hoàng Chí Bảo mà là tiếng nói chung của những người đang có nhiều đặc quyền, đặc lợi trong đảng Cộng sản đương quyền. 

Nhưng bài viết của ông Lê Hiếu Đằng Suy Nghĩ Trong Những Ngày Nằm Bịnh cũng là tiếng nói chung của hàng chục triệu người Việt Nam thức tỉnh không chấp nhận sự tiếp tục độc quyền thống trị của đảng Cộng sản Việt Nam. Một đảng đã vay nợ của nhân dân Việt Nam quá nhiều máu. Một đảng đã đưa dân tộc Việt Nam đi từ thảm họa này đến thảm họa khác. Một đảng đã cắt cả đất đai thiêng liêng của tổ tiên sang nhượng cho nước đàn anh cùng ý thức hệ. Một đảng đang lún sâu trong tham nhũng không phương cứu chữa. 


Dùng bạo lực chuyên chính vô sản bóp chết những tiếng nói chính đáng đòi tự do dân chủ của trí thức, văn nghệ sĩ trong vụ NVGP đã giết chết cả một nền khoa học và văn học nghệ thuật, biến lao động sáng tạo của những trí tuệ và tâm hồn chỉ còn biết ăn theo, nói leo chính trị, kìm hãm sự phát triển của xã hội, của đất nước. Đó là một tội ác! Những tội đó còn ghi khắc mãi trong lịch sử đau thương của đất nước này. Đừng gây thêm tội ác nữa với dân tộc, với lịch sử Việt Nam 

27. 08. 2013

PĐT

NƯỚC VIỆT KHÔNG CẦN HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT của BS Hồ Hải


NƯỚC VIỆT KHÔNG CẦN HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT

Bài đọc liên quan:
+ Nhân trị hay vi hiến trị?
+ Hiến pháp và thực tế Việt Nam
+ Hiến pháp, tên nước và chiếc mặt nạ của thể chế chính trị

Ngày 15/7/2013 thủ tướng chính phủ đã ký thông qua nghị định số 72/2013NĐ-CP của chính phủ gồm 6 chương và 46 điều. Nghị định này sẽ được thực thi vào 1 tháng tới – ngày 01/9/2013. Bỏ một buổi đọc từng chi tiết thì thấy có một vấn đề lớn cần bàn là đất nước Việt thời nay có cần thiết phải có một hiến pháp không? Theo tôi thì không cần hiến pháp. Vì,

Thứ nhất là, hình thái chính trị xã hội Việt hiện nay được điều hành theo nghị quyết của đảng cầm quyền được các ủy viên trung ương đảng họp và soạn thảo, rồi quốc hội thông qua. Từ nghị quyết ấy, chính phủ thừa hành quyền hành pháp soạn thảo ra nghị định để ban hành luật lệ điều hành hành pháp. Tư pháp và lập pháp thực hiện theo nghị quyết và nghị định. 
Thứ hai là, có những nghị quyết và nghị định đi ngược với hiến pháp. Ví dụ như cái nghị định 72/2013 này là vi hiến. Vì điều 26 dự thảo sửa đổi hiến pháp 2013 quy định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Nhưng khoản 5 điều 5, chương I của nghị định 72/2013NĐ-CP quy định rằng: “Tạo đường dẫn trái phép đối với tên miền hợp pháp của tổ chức, cá nhân; tạo cài đặt, phát tán phần mềm độc hại, vi rút máy tính; xâm nhập trái phép, chiếm quyền điều khiển thông tin, tạo lập công cụ tấn công trên internet.” là hành vị bị cấm. 
Trong khi đó, ở điều 19, chương II về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng tài nguyên internet, cũng như trong điều 3, chương I về việc giải thích từ ngữ của nghị định 72/2013NĐ-CP không có bất kỳ một quy định nào về viết blog hay các tài khoản cá nhân trên internet. Nhưng ông Hoàng Vĩnh Bảo, Cục trưởng Cục Phát thanh truyền hình và Thông tin điện tử, giải thích với VnExpress.net: “Trước hết chúng ta phải nói rõ đây là trang thông tin của cá nhân, mà các trang cá nhân thì được phép đưa thông tin về những thứ của chính mình, không được dẫn thông tin tổng hợp, tức là không được trích dẫn thông tin từ các cơ quan báo chí hay các trang web của cơ quan nhà nước”. Đây là một cách suy diễn rất tùy tiện của các quan chức chính quyền, hay là nghị định không rõ ràng mà đã được ký cho thực thi thì không ai có thể giải thích được.
Thứ ba là, vào ngày 24 tháng 9 năm 1982, Việt Nam đã chính thức ký kết tham gia và đã được thông qua Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị – không hiểu vì sao mà Trung Hoa và Cu Ba đã ký kết, nhưng chưa được thông qua, còn Malaysia và Miến Điện lại chưa chịu ký kết. Trong đó có tuyên ngôn nhân quyền, mà điều thứ 19 trong tuyên ngôn nhân quyền được phát biểu là: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.” Như vậy, lời phát biểu của ông cục trưởng chẳng những vi phạm hiến pháp sửa đổi của Việt Nam, mà còn vi phạm cả tuyên ngôn nhân quyền mà nhà nước Việt Nam đã ký kết cách đây 31 năm.

Cuối cùng là, bất kỳ ai đã từng làm khoa học chân chính – ngoại trừ những kẻ đạo văn để kiếm bằng cấp chạy chức chạy quyền hòng tham nhũng hại dân – bất kỳ một thông tin khoa học nào không phải là của mình, mà nó được viện dẫn từ những công trình nghiên cứu khác thì đều phải được dẫn nguồn cụ thể, rõ ràng. Động tác dẫn nguồn này là bắt buộc, là lòng tự trọng của người dẫn nguồn, mà cũng là sự tôn trọng công lao  và lòng biết ơn của người đã làm ra thông tin gốc. Dĩ nhiên, có thông tin phải mua, và có thông tin được dùng tự do, nhưng vì sự nghiệp phục vụ cho nhân loại, hầu hết các thông tin khoa học được công bố tự do, mà ai cũng có thể sử dụng với cái gọi là, tài liệu tham khảo. Hay nói cách khác là, nói có sách mách có chứng, chứ không nói bừa, chửi đổng một cách cảm tính chủ quan, không chứng cứ. Có lẽ cũng vì thế, mà ở nước ta ngày nay lắm “nhà khoa học, giáo sư, tiến sĩ” đạo văn, đạo luận văn, đạo cả viết sách giáo khoa?

Nếu nghị định 72/2013NĐ-CP hoàn thiện hơn thì phải có một điều khoản rõ ràng quy định là, mọi trang mạng thông tin của tổ chức, cá nhân muốn dẫn nguồn thông tin chính thức của hệ thống thông tin chính thống nhà nước thì phải có hợp đồng ký kết mua tài nguyên thông tin. Nhưng dù có thêm bất kỳ điều nào đi nữa thì, việc ông cục trưởng phát biểu trước báo Vnexpress là một vi phạm hiến pháp và tuyên ngôn nhân quyền một cách trắng trợn.

Ngoài ra, nếu không cho dẫn nguồn các thông tin chính thống của các tổ chức hợp pháp thì có được phép dẫn nguồn từ những thông tin nước ngoài không? Và lâu này báo chí chính thống của nhà nước dịch bài, dẫn nguồn từ báo chí nước ngoài có vi phạm với nghị định 72/2013 không? Những điều này trong nghị định chưa nói rõ.

Liệu nghị định 72/2013NĐ-CP ra đời nhằm mục đích gì? Nó được thực thi như thế nào? Và hậu quả của nó sẽ ra sao, nếu giả sử một ngày nào đó vì cái nghị định này làm cho các công ty cho thuê tài nguyên internet vỡ nợ, vì không còn ai muốn dùng nữa, do có dùng cũng không có thông tin nào để đáng xem.

Tất cả những điều trên và những việc làm từ trước đến nay cho thấy, Việt Nam ta hiện nay không cần bất kỳ một hiến pháp nào, và cũng không cần bất kỳ một cam kết nào với thế giới, mà chỉ cần nghị quyết và nghị định của đảng cầm quyền, để điều hành đất nước.

Vietnam Treads China’s Path SocietySoutheast AsiaVietnam May 19, 2011


By Bridget O’Flaherty

  • RSS
While international attention has been focused on China’s crackdown on activists, Vietnam has also been tightening up on dissent.
Vietnam Treads China’s Path
Campaigners in China aren’t the only ones feeling the heat from an overbearing communist regime. While global attention has been focused on the detention of Chinese artist and activist Ai Weiwei, dissidents in Vietnam have also been receiving heavy sentences for what the government terms ‘anti-state’ activities.
Last month, for example, saw an appeal by one of the most senior officials ever to be tried for dissent. Former Communist Party official Vi Duc Hoi, 54, was given a five-year jail sentence, with an additional three of house arrest. The sentence was, admittedly, a significant reduction compared with the eight years jail time and five years house arrest originally handed down. Still, Human Rights Watch wasn’t alone in describing the sentence as ‘very severe.’
And Hoi certainly isn’t alone.
Lawyer Cu Huy Ha Vu was sentenced to seven years jail and three years house arrest late last month, having been detained after allegedly being discovered in a hotel with a woman who wasn’t his wife. His laptop was seized, his house was searched and he was charged with anti-state activities.
The same month, Bui Chat, founder of Giay Vun Publishing, was also arrested after he returned from Buenos Aires where he travelled to collect the Freedom to Publish award from the International Publishers Association. He was later released, but is said to be facing ongoing surveillance.
Last year, a blogger was arrested after she posted an entry describing a high-ranking official’s son as a womanizer. She was finally released last month, with authorities quoted in the local press saying she’d been sufficiently ‘cautioned.’
It’s often said that in all things security, Vietnam treads a similar path to China. Certainly, Beijing is in the midst of what many see as the most intense crackdown in years on dissidents over fears that the so-called Arab Spring could reach Asia’s shores. And for those looking for interesting parallels, Cu Huy Ha Vu’s case offers a particularly striking one.
Cu Huy Ha Vu comes from first-rate communist stock—the son of a famed poet who was a close confidant of Ho Chi Minh.  This has an eerie parallel with China’s Ai—arrested in Beijing en route to Hong Kong—who himself is the son of a celebrated poet and who was previously thought by many to be untouchable.
Yet it would be wrong to try too hard to tie together events in Vietnam and China. For one, the intense ‘wider’ crackdown in Vietnam can actually be traced back to 2007.
‘It started after Hanoi got what it wanted—WTO accession—and has continued since,’ says Duy Hoang, spokesman for democracy organization Viet Tan, which is itself banned in Vietnam. ‘And the crackdown wasn’t a response to the 11th Party Congress, but to the regime’s growing nervousness over the growing democracy movement and blogosphere.’
Up until mid-January, most of the recent repressive measures were interpreted as a bit of house cleaning prior to the Congress. The blocking of Facebook (first haphazardly in 2009, then intensified in the days leading up to the event), various arrests and even the supposed crackdown on illegal Chinese labour were all seen as part of this pre-Congress sanitising. After all, the reasoning went, no one wanted dissenters around asking questions prior to an event whose main purpose is ensuring one-party supremacy. Warring factions within the Communist Party, meanwhile, were determined to prove they weren’t soft on security.
But the crackdown has outlived the Congress.
Vu appears to have run into trouble after trying to sue the prime minister over a controversial plan for bauxite mining in central Vietnam and ceding a large swath of land along the Sino-Vietnamese border.
‘It’s widely believed Vu was persecuted as retribution for taking on the prime minister,’ says Hoang.
Vu was arrested on November 5 last year, with documents he’d written calling for multi-party democracy and interviews given to foreign media used as evidence against him, according to the Nhan Dan newspaper.
‘These articles carried many contents denouncing the State of Vietnam and the Vietnamese people. Through the investigation, the Vietnamese authorities found 40 documents with different topics, including a number of articles written by Mr Vu, rejecting the leadership of the Communist Party of Vietnam,’ Nhan Dan reported.
It had been hoped that foreign pressure might force the government to halt this ongoing wave of arrests. The European Union has been especially critical, arguing that with economic growth should come freedom of speech. Its April 4 statement said Vu’s conviction, ‘is not consistent with the fundamental right of all persons to hold opinions and freely and peacefully express them.’
This comes as the EC and Vietnam are currently looking at the possibility of launching negotiations that could lead to a major free trade agreement. The bilateral trade agreement Vietnam signed with the United States, which went into effect in 2001, is credited with spurring the economic growth of the communist nation.
But the issue of Vu may now further complicate these talks. ‘The esteem of the international community for Vietnam, and Vietnam’s own long-term economic progress are not sustainable if peaceful expression, particularly on key issues for the future of the people and the country, is suppressed,’ the EU statement continued.
The United States, for its part, has also voiced its ‘deep concern,’ and along with the EU has said that the France-trained lawyer’s conviction was inconsistent with international human rights conventions. Vietnam is a party to these.
Yet while activists hope the development of a civil society in Vietnam will foster democratic values, some observers complain that the concerns voiced by foreign countries are rarely backed up by more coercive measures, such as the denial of foreign aid.
‘We voiced our concern about the sentencing of Cu Huy Ha Vu, as we have consistently in other cases. Our assistance programs are not, however, linked,’ says a USAID spokesman.
But although aid might not be seen as a viable lever by foreign governments, they may be able to exercise influence in another way. The United States has, for example, indicated that rights issues are a hurdle to closer defence cooperation between the two nations. Secretary of State Hillary Clinton said as much at the East Asia Summit last October.
Such pressure could offer a glimmer of hope to those pressing for change.
‘General messages urging improvements in Vietnam’s human rights record are good but nowhere near sufficient,’ says Human Rights Watch’s Phil Robertson. ‘They need to be specific on what needs to happen.’
Photo Credit: World Economic Forum